Hãy làm việc thiện và bạn sẽ nhận ra hạnh phúc đang đến với bạn.

James Freeman Clarke (1810-1888)
Truyen-tin.net - Sơ lược dữ kiện:

  • ♥ Tiểu sử Các Thánh: 272
  • ♥ Các Bài đọc thánh lễ: 772
  • ♥ Văn hoá, nghệ thuật: 1154
  • ♥ Tin tức, chuyên đề... 18196
  • ♥ Thư viện hình ảnh: 14131
  • ♥ Suy niệm Lới Chúa: 924
  • ♥ Video: 2246
  • ♥ Tài liệu tham khảo: 780

... cùng những sưu tập khác.
tt
Laudetur Jesus Christus - Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô NewsFeed
-
TÀI LIỆU » Nghiên Cứu
Back TRỞ LẠI (Cập nhật: 21/02/2016 6:50:21 SA)
A  A  A
Một nền Văn hoá Công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với Giáo sĩ Alexandre de Rhodes
MỘT NỀN VĂN HỌC CÔNG GIÁO BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ
CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU VỚI GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES[1]

 
Khi đến Việt Nam vào thế kỷ XVII, các vị thừa sai ngoại quốc tôn trọng nền văn hoá Việt Nam: họ học tiếng địa phương, chữ viết Việt Nam, lúc đó là chữ Nôm, thứ chữ của tầng lớp có học sách thánh hiền. Các giáo sĩ đến đất Việt Nam với mục đích truyền giáo. Vì yêu mến những người mà các ngài loan báo Tin Mừng, nên các ngài kính trọng nền bản sắc văn hoá bản địa. Các ngài đem Lời Chúa cho hết mọi người, không phân biệt thành phần xã hội, nên đã học chữ Nôm để tiếp xúc với thành phần trí thức, quan lại, sĩ phu và sư sãi đang quen sử dụng loại chữ viết này. Nhưng thành phần đại đa số dân chúng thuộc tầng lớp thất học, mù chữ không biết đọc chữ Nôm, lam lũ với miếng cơm manh áo hằng ngày, tiếng nói với “cung giọng như tiếng chim hát” tuyệt vời nhưng khó học. Các ngài nghiên cứu tiếng nói Việt Nam trong khung cảnh văn hoá lúc đó, tạo chữ viết mới bằng phiên âm và viết theo mẫu tự Latinh, để soạn đề cương ngữ pháp và những nội dung giáo lý.
 
Giáo sư Trần Văn Toàn đã nhận định về thái độ của các giáo sĩ mới đến hội nhập vào văn hoá nước ta như sau[2]:
 
“Trước hết, ngay từ thế kỷ XVII, các giáo sĩ Tây phương sang Việt Nam truyền giáo, đã ra công quan-sát phong tục tập quán, đồng thời học tiếng nói và chữ viết của ta, để dễ bề chia sẻ niềm tin của họ với người mình. Họ rất có thiện cảm với người Việt, và đã viết ra nhiều lời ca tụng văn hoá và ngôn ngữ của chúng ta. Ngay trong đầu thế kỷ XVII, giáo sĩ Girolamo Maiorica là người Ý (Italia) đã soạn ra hàng chục cuốn sách đạo bằng chữ nôm. Sau đó giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) quê ở Avignon (nay thuộc về nước Pháp) đã cho in tại Roma năm 1651 sách giáo lý bằng chữ quốc ngữ Việt Nam và tiếng Latinh, sách về ngữ học Việt Nam bằng tiếng Latinh và tự vị Việt - Bồ Đào Nha - Latinh. Những người đã xướng xuất ra các công trình ấy vốn là những người có học thức, có đầu óc cởi mở, và đã ra công học hỏi được nhiều, nhưng ta không nên quên rằng các vị ấy đã học với người Việt mình.”
 
Các giáo sĩ Dòng Tên trong thế kỷ XVII và các giáo sĩ truyền giáo trong những thế kỷ kế tiếp vẫn tôn trọng văn hoá dân tộc, nghiên cứu làm các tự điển và trình bày giáo lý bằng chữ Nôm cho một số quan lại, nho sĩ và sư sãi.
 
“Khi viết sách vở cho người Việt về những điều rất tôn nghiêm như tôn giáo, họ đã dùng ngay chữ nôm (như trong các tác phẩm của Girolamo Maiorica), và người công giáo tiếp tục viết, in và dùng sách chữ Nôm cho đến giữa thế kỷ XX. Tuy vậy họ cũng tìm cách viết tiếng Việt theo mẫu tự Latinh để cho người Âu châu học tiếng Việt cho dễ. Thứ chữ viết ấy được khánh thành trong sách Phép giảng tám ngày của A. de Rhodes cho in tại Roma năm 1651. Chính vì ý thức được rằng ngôn ngữ là kho tàng quí báu của văn hoá dân Việt, và cũng chính vì muốn dùng tiếng Việt cho đúng nghĩa, cho đúng văn pháp, cho nên ngay từ thế kỷ XVII, từ A. de Rhodes trở đi, nhiều giáo sĩ Âu châu đã ra công làm tự vị và viết về ngữ học Việt Nam.”[3]
 
Trong sách Tự điển, Đức cha Taberd cũng quan tâm bảo lưu và đối chiếu chữ Nôm, soạn thảo nhiều khía cạnh trong tự điển của ngài biên soạn (1838) để trải rộng kiến thức khoa học, giáo lý cho nhiều thành phần dân chúng cần tra cứu (sẽ trình bày trong phần nội dung bài nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Toàn).
 
Giáo sư Trần Văn Toàn khẳng định như sau:
 
“Đối với những ai có lòng tha thiết với văn hoá dân tộc, thì cuốn tự vị Việt - Latinh do Giám mục Taberd biên soạn và cho in bên Ấn Độ năm 1838, thực là một tài liệu không thể bỏ qua, vì nó đánh dấu một chặng đường quan trọng trong lịch sử hình thành của nền quốc học Việt Nam. Quan trọng là vì đây là lần đầu tiên chữ quốc ngữ được đối chiếu với chữ Nôm trong một cuốn tự vị được in ra. Các tự vị chữ nôm được biên soạn và ấn hành sau này đều lấy lại cái sáng kiến đó như là một việc rất tự nhiên.”[4]
 
Ngay trong thế kỷ XX, Giáo hội Việt Nam vẫn tôn trọng chữ Nôm và soạn thảo sách dạy chữ Nôm cho dân chúng học tập, như quyển “Hán Tự Qui Giảng” của Đ. Hồ Ngọc Cẩn (năm 1927), đã mượn ít nhiều trong sách Thầy Prémare và Thầy Chouzu soạn thảo.[5]
 
Có thể nói, từ hậu bán thế kỷ XVII  dần dần phân ra 2 xu hướng thực tiễn trong văn học nước nhà: Văn học Việt Nam được trình bày theo chữ viết Nôm và Văn học Nhà Đạo theo Chữ Quốc ngữ, từ từ phát triển trong không gian tôn giáo Công giáo, được Võ Long Tê gọi là “Văn học Công giáo bằng Chữ Quốc ngữ”[6].

Thật vậy, phạm trù theo thuật ngữ “Văn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ” được hai bài tham luận trong Hội thảo Khoa học “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”, tổ chức tại TP. Qui Nhơn vào ngày 12-13/01/2016 trích dẫn bài nghiên cứu của Ông VÕ LONG TÊ, “Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam”, cuốn 1, NXB Tư Duy, Sài Gòn 1965, trang 236, đã đi đến kết luận như sau:
 
“Với Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác. Một nền văn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với Giáo sĩ Alexandre de Rhodes” - nhà nghiên cứu Võ Long Tê nhận định.[7]
 
Chúng tôi dựa vào những tham luận của các nhà nghiên cứu trong kỳ “Hội thảo Khoa học, Bình Định với chữ Quốc ngữ” ngày 12-13/01/2016 tại TP. Qui Nhơn. Đặc biệt chúng tôi trích dẫn phần lớn những bài chuyên sâu trước 1975 về Giáo sĩ Đắc Lộ như của các nhà nghiên cứu: ông Nguyễn Khắc Xuyên, Phạm Đình Khiêm, NXB. Tinh Việt Văn Đoàn, Sài Gòn năm 1961, ông Võ Long Tê, “Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam", cuốn 1, của, NXB Tư Duy, Sài Gòn 1965, cũng như Giáo sư Trần Văn Toàn (sđd) để tìm hiểu nội dung sau đây:
 
“MỘT NỀN VĂN HỌC CÔNG GIÁO BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ
CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU VỚI GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES”

 
Chúng tôi xin trình bày đề tài nghiên cứu trên theo các chương như sau:
 
I. CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỦA GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES (ĐẮC LỘ): GIA TỘC VÀ SỰ NGHIỆP[8]
 
II. CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC TÁC PHẨM CHỮ QUỐC NGỮ CỦA ALEXANDRE DE RHODES[9]
 
A. Tự điển Việt-Bồ-La, ngữ pháp tiếng Việt
 
B- Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác.
 
C- Một nền Văn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với Giáo sĩ Alexandre de Rhodes
 
III. CHƯƠNG III: NHẬN ĐỊNH VÀ MỘT SỐ TÁC GIẢ VĂN HỌC KITÔ GIÁO QUA DÒNG THỜI GIAN TRÊN 200 NĂM
 
***
 
CHƯƠNG I

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỦA GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES (ĐẮC LỘ):
GIA TỘC VÀ SỰ NGHIỆP

 
Công trình Latinh hoá tiếng Việt Nam vào tiền bán thế kỷ XVII là một việc làm tập thể của các giáo sĩ Dòng Tên truyền giáo tại Đàng Trong, có sự đóng góp tích cực trong những năm tháng dài của một số tín hữu Việt Nam. Nhưng việc soạn thảo, in ấn Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép Giảng Tám Ngày vào năm 1651 được coi là công lao to lớn của Giáo sĩ ALEXANDRE DE RHODES (thường gọi là ĐẮC LỘ)[10]. Nhưng con người vĩ đại như thế đã hấp thụ được dòng máu gia tộc, môi trường tôn giáo và được đào luyện trong một không gian sống đời thánh hiến cho lý tưởng cao đẹp: truyền giáo vùng Viễn Đông như thế nào?
 
Có thể tóm tắt vài nét sơ lược tiểu sử của Giáo sĩ ALEXANDRE DE RHODES dựa vào một số tài liệu nghiên cứu trong ngày Hội thảo Khoa học “Bình Định với chữ Quốc ngữ” (Bình Định, ngày 12-13/01.2016)[11]. Tuy nhiên, có tầm nhìn tổng quát về “Gia tộc và Sự nghiệp” của Giáo sĩ ALEXANDRE DE RHODES, chúng tôi xin phép trích đoạn hầu như toàn bộ tài liệu của hai tác giả Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm, tái bản trọn cuốn “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”, của ALEXANDRE DE RHODES, NXB Tinh Việt Văn Đoàn (năm 1961), từ trang XIV–XXVI.
 
I. CÔNG DÂN ĐỨC GIÁO HOÀNG
 
“Nếu Giáo sĩ Đắc Lộ có “thẻ căn cước” và thẻ ấy còn giữ được đến ngày nay, chắc chắn ta sẽ đọc thấy ở đó, sau hàng chữ “họ, tên”, đến mục quốc tịch ghi mấy chữ: “Công dân Đức Giáo hoàng” (Sujet du Pape). Quả thực đó mới chính là quốc tịch của Cha Đắc Lộ trên thực tế cũng như pháp lý. Bởi vì tỉnh Avignon, sinh quán của người, thuộc địa hạt Comtat Venaissin, lúc ấy tuy không còn là nơi đóng đô tạm của mấy vị Giáo hoàng thời cận kim, song vẫn là lãnh thổ của Toà Thánh La Mã mà Đức Giáo hoàng là Quốc trưởng.
 
Nguyên quán gia đình Đắc Lộ trước ở thị xã Rueda thuộc tỉnh Calatayud, xứ Aragon, trong nước Tây Ban Nha. Từ địa phương này ông nội Giáo sĩ là Bernardin da Rueda[12] và bà nội là Jeanne de Tolède (tên một tỉnh Tây Ban Nha) di cư đến Avignon hồi thượng bán thế kỷ thứ 16 [13] sống bằng nghề buôn tơ lụa. Thân sinh người là ông Bernardin de Rhodes (tức Bernardin II) được liệt vào bậc thân hào (noble) tỉnh Avignon.
 
Theo các sách đã xuất bản thì Alexandre de Rhodes chào đời ngày 15 tháng 03 năm 1591, nhưng nếu tính tuổi theo những bút tích của chính giáo sĩ, thì người phải sinh vào năm 1593 mới  đúng[14]. Ngoài người anh cả là Raymond de Rhodes, mang tước “Seigneur d’Auriac”[15], giáo sĩ còn có người em là Georges de Rhodes, sinh năm 1597, cũng tại Avignon. Người em này, năm 1615, cũng vào Dòng Tên theo bước chân anh, rồi làm Viện trưởng Học viện Dòng Tên tại Lyon, viết nhiều sách về thần học và triết học và từ trần tại Lyon ngày 17/05/1661. Một người chú ruột của giáo sĩ cũng sinh sống ở Lyon, làm một y sĩ thời danh làm khoa trưởng Trường Y khoa Lyon[16].
 
Theo nhiều nhà khảo cứu và con cháu ngày nay cũng nhìn nhận [17] thì tổ tiên dòng họ Đắc Lộ vốn là người Do Thái cũng trở lại cùng Chúa. Danh từ Rhodes (mà ta phiên âm là Đắc Lộ) gốc ở tiếng Y-pha-nha Rueda, vừa là tên thị xã quê hương, lại vừa có nghĩa là “bánh xe”, biểu hiệu của người Do Thái. Biểu hiệu này có khắc trên mộ chí ông bà nội của giáo sĩ hiện còn tại Avignon. Nhiều gia đình Do Thái Công giáo ở Avignon thời ấy cũng có phù hiệu như vậy.
 
Ra đời dưới bóng những đền đài cổ kính của mấy triều đại Giáo hoàng, Alexandre de Rhodes lại được nuôi dưỡng trong một gia đình đạo đức, có liên lạc chặt chẽ với các cha Dòng Tên sở tại: giấy tờ còn lưu trữ lại viện bảo tàng Calvet (Avignon) cho biết ông nội Giáo sĩ Đắc Lộ đã dâng cúng cho nhà Dòng Tên một thửa đất ở khu Cavaillon để lấy hoa lợi chi dùng.
 
Sau những năm tiểu học và trung học ở quê nhà, Alexandre de Rhodes nảy ý chí dâng hiến cuộc đời cho Chúa: năm 1612, khoảng 18-19 tuổi, ông được nhận vào nhà tập Dòng Tên ở La Mã tập viện Saint-André du Quirinal. Dòng Tên Chúa Giêsu do Thánh Y-nha-xô sáng lập năm 1534 với mục đích tổng phản công trên mặt trận truyền bá đức tin, hồi ấy đang phát triển rất mạnh mẽ, do ảnh hưởng trực tiếp của vị sáng lập, và tấm gương sáng chói của Thánh Phanxicô Xaviê, quan thầy Đông phương. Các chiến sĩ của Dòng chia nhau đi khắp thế gian chinh phục các linh hồn, nhiều vị nỗi tiếng như Cha Matteo Ricci (Lợi Mã Đậu) ở Trung Hoa, Cha Nobili ở Ấn Độ. Alexandre de Rhodes rồi đây sắp nối tiếp lớp người xuất chúng đó.
 
Tại học viện La Mã, chủng sinh Đắc Lộ chuyên chú về thần học và toán học. Môn này vào thời đó, là một (phụ tá) rất đắc lực cho việc truyền giáo, vì nhờ nó mà các giáo sĩ tính toán được nhật thực, nguyệt thực, vẽ được địa đồ thiên đồ, chế tạo được đồng hồ máy móc, do đó mà gây được cảm tình và uy tín đối với vua quan cũng như dân chúng ở các xứ truyền giáo. Một trong những bạn đồng môn của Giáo sĩ Đắc Lộ là Giáo sĩ Schall, người Đức, sau giảng đạo ở Trung Hoa, có soạn bộ sách bách khoa thiên văn học bằng chữ Hán.[18]
 
Sau khi được phép Cha Bề trên Vitelleschi, Giáo sĩ Đắc Lộ đến lãnh phép lành của Đức Giáo hoàng Phaolô V, rồi theo đường bộ đi Lisbonne, Thủ đô Bồ Đào Nha, để sang Viễn Đông truyền giáo. Ngày 4 tháng 4 năm 1619, ông đáp tàu “Thánh nữ Têrêxa” cùng với 5  bạn đồng tu Dòng Tên trong đó có Cha Jérôme Majorica, người Ý, về sau có giảng đạo ở Xứ Bắc, và trước tác cả một kho sách Nôm hiện nay còn lưu trữ tại Vatican. Vừa ra khơi được mấy ngày đã gặp phong ba rất giữ, xong nhờ ơn riêng Đức Mẹ can thiệp mà giáo sĩ kể như một phép lạ nên được cứu thoát.
 
Sau những chặng ghé khá lâu tại Goa (Ấn Độ) và Malacca (Mã Lai) Cha Đắc Lộ đến Áo Môn (Trung Hoa) ngày 29/05/1623, định vào giảng đạo ở Nhật Bản. Nhưng lúc ấy sau những cuộc tàn sát công giáo rất giữ dội người Nhật đã đóng chặt mọi cửa ngõ. Cha bề trên tỉnh Việt Đông của Dòng Tên liền phái Giáo sĩ Đắc Lộ đến xứ Nam tức Đàng Trong Việt Nam, để tăng cường đoàn tông đồ đã đến hoạt động từ năm 1615.”[19]
 
II. DƯỚI ÁNH SAO SINH NHẬT
 
Sau 19 ngày vượt biển một thời gian khá lâu vì gặp nhiều sóng gió cuối tháng chạp năm 1624, nghĩa là dưới ánh sao Giáng Sinh, Giáo sĩ Đắc Lộ đặt chân đến (xứ Nam) lần đầu tiên. Giáo sĩ lên bộ ở Tỉnh Quảng Nam (Đà Nẵng hoặc Hội An). Ngoài Giáo sĩ Đắc Lộ chuyến tàu này còn đưa đến xứ Nam 6 giáo sĩ Dòng Tên khác, trong số đó có Cha Gabriel de Mattos, thanh tra và một giáo sĩ người nhật thạo chữ Hán.
 
Xứ Nam, còn gọi là Đàng Trong, lúc ấy dưới quyền Chúa Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi (1613-1635), con kế nghiệp Chúa Nguyễn Hoàng, người đã đoạn giao với Chúa Trịnh ở xứ Bắc và tuy vẫn thuần phục vua nhà Lê đóng đô ở Hà Nội, song trong thực tế đã gây dựng một giang sơn biệt lập từ Sông Gianh vào đến Phú Yên. Cửa Hàn và Cửa Hội An (thời ấy gọi là Hải Phố, người Âu viết Faifo) đều thuộc tỉnh Quảng Nam, là hai cửa ngõ thông thương với ngoại quốc. Ngoài các thuyền bè Nhật Bản, Trung Hoa, Mã Lai, tàu buôn Tây phương nhất là của Bồ Đào Nha, từ đầu thế kỷ XVII vẫn thường qua lại cửa bể này, nhân đó, cũng thường có giáo sĩ lui tới song không ở lâu. Giáo sĩ Dòng Tên Francesco Buzomi, người Ý, đến xứ Nam ngày 18 tháng giêng năm 1615, chính là vị khai sáng Giáo đoàn xứ Nam. Sau 10 năm đầu, đạo công giáo đã có một số ít tín hữu do ba giáo sĩ trông coi, dưới quyền điều khiển của Cha Bề trên Buzomi đóng tại Nước Mặn, lúc ấy thuộc Phủ Qui Nhơn nay là tỉnh Bình Định. Các giáo sĩ này đều phải dùng thông ngôn, duy có Cha Francesco di Pina, ở Hội An, rất thông thạo tiếng Việt, nên các bài giảng của người được ích lợi hơn.
 
Việc đầu tiên của Giáo sĩ Đắc Lộ khi đến xứ Nam là học tiếng Việt, mặc dầu nhận thấy rất khó khăn. Giáo sĩ học bài mỗi ngày, cũng chăm chỉ như xứ học thần học ở La Mã, lại nhờ có năng khiếu riêng về ngôn ngữ, nên chỉ 4 tháng đã giải tội được và 6 tháng giảng được bằng tiếng Việt. Giáo sĩ ghi công một người đã giúp giáo sĩ cách lạ lùng: “Một thiếu niên trong xứ, chỉ trong ba tuần lễ đã dạy tôi đủ hết các cung giọng của tiếng Việt, và cách đọc của tất cả các tiếng. Cậu ấy không hiểu tiếng tôi, và tôi cũng chẳng hiểu tiếng cậu, nhưng cậu thông minh đến nỗi tự nhiên hiểu được hết các điều tôi muốn nói, và thật sự, cũng trong ba tuần lễ ấy, cậu đã học đọc được các thư của chúng tôi, lại còn viết được tiếng Pháp, và giúp được lễ bằng tiếng Latinh. Tôi ngạc nhiên thấy một trí khôn mẫn tiệp như vậy và cả trí nhớ vững chắc nữa. Từ đó, cậu làm thầy giảng giúp các cha, và đã trở nên một lợi khí rất đắc lực làm sáng danh Thiên Chúa ở Giáo đoàn này và trong xứ Lào, vì về sau thầy sang đó hoạt động mấy năm rất có hiệu quả. Thầy giảng ấy yêu mến tôi đến nỗi lấy tên tôi.” (A. de Rhodes, Voyages et Missions (1854), tr. 88-89).
 
Sau 6 tháng học tiếng, Giáo sĩ Đắc lộ cùng với Giáo sĩ Pina từ Quảng Nam lên Thuận Hoá (Kim Long). Tại đây, Cha Đắc Lộ được chứng kiến một cảnh tượng vô cùng khích lệ, đầy biểu hiện tốt lành cho tương lai: Cuộc tòng giáo của một bậc mệnh phụ ngang hàng quốc mẫu: bà Minh Đức Vương thái phi, tiết phụ chúa Nguyễn Hoàng, mẹ Ông Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê tức Nghĩa hưng Quận Vương, dì ghẻ của vị chúa đương quyền. Bà này trước kia rất sùng bái thần tượng, đến khi nghe Cha Pina giảng, được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, liền bỏ hẳn sự lầm lạc, chịu Phép Rửa Tội, lấy tên Thánh là Maria Mađalêna, rồi từ đó trở nên cột trụ cho Giáo Hội mới này. Giáo sĩ Đắc Lộ ghi chép: “Trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này, tôi vẫn gặp bà và tôi tưởng rằng từ 28 năm nay, bà vẫn một lòng bền đỗ trong sự thực hành đầy đủ các nhân đức Công giáo. Bà lập ra trong dinh bà một nhà nguyện rất đẹp (…); bà đã dùng những lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người ngoại giáo trở lại, trong số đó có những người họ hàng với nhà vương. Hiện nay bà vẫn là nơi nương tựa của các giáo sĩ và không một giáo hữu nào mà bà không hết lòng giúp đỡ.” (A. de Rhodes, Voyages et Missions (1854), tr. 91, và xem Phạm Đình Khiêm, Minh Đức Vương thái phi, Tinh Việt, 1957).
 
Sau cuộc đại phúc truyền giáo tại Kinh đô, hai giáo sĩ trở về Quảng Nam. Chẳng may cũng trong năm đó (1625), Giáo sĩ Pina phải chết đuối trong khi thừa hành nhiệm vụ tông đồ ngoài cửa Hội An; rồi tiếp đến một sắc lệnh đầu tiên của Chúa Sãi cấm đạo Thiên Chúa. Nhờ được thế tử Nguyễn Phúc Kỳ, con Chúa Sãi lúc ấy làm trấn thủ Quảng Nam, tỏ ra rộng rãi, nên các giáo sĩ vẫn có cách ở lại được trong xứ.
 
Tháng bảy năm 1626, Giáo sĩ Đắc Lộ được Bề trên gọi về Áo Môn để trao phó một nhiệm vụ khác. Trong 18 tháng lưu trú ở xứ Nam lần đầu tiên, Giáo sĩ Đắc Lộ chưa thu hoạch được kết quả bao nhiêu, nhưng đó là một thời kỳ chuẩn bị cần thiết cho những cuộc chinh phục lớn lao sau này.
 
III. SÁNG LẬP GIÁO HỘI ĐÀNG NGOÀI
 
Cũng như ở xứ Nam, xứ Bắc trước thời các Cha Dòng Tên, đã có nhiều giáo sĩ lai vãng, nhưng việc truyền giáo chưa có kết quả. Tháng 3 năm 1626, Cha Baldinotti là giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đến Đàng Ngoài, vì không biết tiếng, chỉ rửa tội được 4 trẻ em gần chết. Nhưng phúc trình của người gởi về Áo Môn đã mở đường cho giáo sĩ Đắc Lộ đến sáng lập Giáo hội Đàng Ngoài.
 
Cùng với Cha Pierre Marquez, sau 8 ngày vượt bể, Giáo sĩ Đắc Lộ lên bộ ở Cửa Bạng, trong tỉnh Thanh Hoá, chính ngày lễ Thánh Giuse, 19/03/1627. Để ghi nhớ kỷ niệm ấy, người đặt tên cho cửa bể này là Cửa Thánh Giuse (Port de Saint-Joseph) và nhận Thánh Giuse là quan thầy của Giáo hội Đàng Ngoài. Việc lựa chọn này về sau được chính thức xác nhận do Công Đồng đầu tiên của Địa phận Đàng Ngoài họp tại Phố Hiến ngày 14 tháng 02 năm 1670 dưới quyền chủ toạn của Đức cha Lambert de la Motte, Giám mục Đàng Trong, Đại diện Đức cha François Pallu, Giám mục Đàng Ngoài, lúc ấy đã từ Xiêm về Âu châu. (Texte du synode, dẫn trong: Nguyễn Hữu Trọng, Les Origines du Clerrgé viêtnamien).
 
Nhờ biết nói tiếng Việt, việc truyền giáo của Cha Đắc Lộ đã có kết quả ngay từ lúc đầu. Trước đám đông dân chúng kéo xuống tàu xem các hàng hoá do tàu Bồ Đào Nha chở đến, Cha Đắc Lộ cũng “mở món hàng” của người ra theo lời người và rao rằng: “Tôi có một món hàng còn quý hơn nữa và rẻ tiền hơn hết mọi thứ khác, ai muốn có thì tôi cho không, ấy là đạo thật, là đường thật đưa đến hạnh phúc.” (A. R. Voyages et Missions (1854) tr. 109). Sau bài giảng đầu tiên ấy, và trước khi lên bờ, có hai người “rất khôn ngoan” đã quyết định xin tòng giáo. Mấy ngày sau, Cha Đắc Lộ rửa tội cho họ cùng cả gia quyến. Trong 2  tháng hoạt động trong tỉnh Thanh Hoá, giáo sĩ rửa tội được tới 200 người, một phần ở vùng cửa Bạng, và phần lớn ở khu An Vực, nơi lập ngôi nhà thờ đầu tiên xứ Bắc, gần Thần Phù giáp giới Ninh Bình (C.A Poncet: Les voyage du Père A. de Rhodes de Cửa Bạng à Hanoi, trong B. A. V. H 1942, tr. 261-282). Do đó có câu ca dao:
 
“Thứ nhất Đền Thánh Phapha (Toà Đức Giáo hoàng ở Roma)
Thứ nhì Cửa Bạng, thứ ba Thần Phù.”
 
Trong thời gian này giáo sĩ được gặp chúa Trịnh Tráng chỉ huy 400 chiến thuyền, 300 thớt voi và 120.000 quân thuỷ bộ đi đánh chúa Nguyễn trong Nam (A. de Rhodes, Voyages et Missions (1854) tr. 110;  Histoire du Tunquin, tr. 94-95). Chúa Trịnh tiếp hai giáo sĩ và các thương gia Bồ Đào Nha rất tử tế. Cha Đắc Lộ tặng chúa một cái đồng hồ quả lắc và một quyển sách toán pháp in bằng chữ Hán có mạ vàng rất đẹp. Đó chính là quyển “Kỷ hà nguyên bản viên dung hiệu nghĩa”, do Giáo sĩ Matteo Ricci (Lợi Mã Đậu) dịch nguyên văn bộ sách của nhà toán học trứ danh cổ thời Hy Lạp: Euclide, và ấn hành tại Bắc Kinh từ năm 1607. Trịnh Tráng hẹn các giáo sĩ ở lại chờ ông trong tỉnh Thanh Hoá. Đến khi thất trận trở về, chúa Trịnh mời các giáo sĩ xuống thuyền để cùng về Hà Nội, dọc đường chỉ nói truyện thiên văn, toán pháp và xem đồng hồ.
 
Về tới Kinh đô (Kẻ chợ) ngày 2/7/1627, Trịnh Tráng cấp cho các giáo sĩ một căn nhà rất đẹp, vừa dùng làm nhà thờ, vừa dùng để ở. Tiếng đồn lan đi khắp xứ, người ta kéo đến rất đông, khiến giáo sĩ phải giảng mỗi ngày bốn lần, có khi sáu lần; mà ngày thì quá ngắn, giáo sĩ nhiều khi phải thức cả đêm để tiếp truyện những người xin tòng giáo hoặc giải tội cho bổn đạo. Kết quả rất mãn nguyện ngay từ lúc đầu và càng ngày càng tăng. Một người em gái của Chúa Trịnh Tráng cùng 17 người trong thân thích tòng giáo một lượt. “Bà này tên thánh là Catarina, nguyên là một nữa sĩ đã thành thơ tất cả cuốn giáo lý, từ việc khai thiên lập địa đến Chúa Giêsu ra đời, chịu nạn, chịu chết, sống lại và lên trời” (A. R. Histoire du Tunquin, tr. 115) Ngoài ra, lại còn nhiều võ quan, binh lính, sư sãi cũng xin rửa tội: Năm đầu 1.200, năm sau 2.000, và năm thứ ba: 3.500 người. (…).
 
Không thụ động, đức tin của các giáo hữu đầu tiên là một đức tin, có khả năng chinh phục người khác. Mỗi người được rửa tội rồi, lại đi khuyên dụ bao nhiều người khác trở lại cùng Chúa. Như ông sư kia, sau khi tòng giáo, đã dẫn đến cho cha Đắc Lộ năm trăm người tân tòng.
 
Trước tinh thần tông đồ mạnh mẽ của giáo dân Việt Nam, Giáo sĩ Đắc Lộ liền nảy ra ý kiến lựa chọn một số phần tử ưu tú, chưa có gia đình, lập thành đoàn thầy giảng, chuyền giúp việc truyền giáo: đó là chủng viện đầu tiên ở Việt Nam để tiến đến hàng giáo sĩ bản quốc. Bốn thầy giảng đầu tiên được làm lễ khấn hứa là Phanxicô, Anrê, Ynhaxô và Antôn, đều là những tông đồ xuất sắc.
 
Chính trong thời kỳ này Giáo sĩ Đắc Lộ bắt đầu soạn cuốn giáo lý bằng tiếng Việt phiên âm theo mẫu tự La Mã gọi là Quốc ngữ: cuốn “Phép Giảng Tám Ngày”. Người cũng soạn nhiều kinh và sách ngắm mười lăm sự thương khó Chúa Giêsu.
 
Sau một năm rưỡi bình an, giông tố bắt đầu nổi dậy trong Giáo hội mới. Do sự xúc xiểm của quan lại, đầu năm 1630, chúa Trịnh ra lệnh cấm Cha Đắc Lộ giảng đạo và phải rút ngay về Ái Môn hoặc Đàng Trong. Vì lúc ấy không có tàu đi Áo Môn, giáo sĩ bị giải xuống thuyền để “tống khứ” vào xứ Nam. Không ngờ cuộc lưu đày ấy trở nên một cuộc hành trình thoả mãn: Trong ba tuần lênh đênh mặt biển, giáo sĩ đã rửa tội được 24 trong số 36 người lính có phận sự thi hành án trục xuất giáo sĩ. Sau cùng, viên đội trưởng cũng xin rửa tội, lấy tên thánh là Augutinô. Từ đó người mang án phát lưu trở nên chủ nhân ông chiếc thuyền Nhà nước. Thay vì chở giáo sĩ đến hải phận Đàng Trong, họ để giáo sĩ lên bộ ở Bắc Bố Chính, để gặp các giáo hữu miền này.
 
Cha Đắc Lộ hoạt động kín đáo ở vùng Bố Chính, Nghệ An trong 4 tháng, rồi lại gặp hai cha Dòng Tên khác đưa tàu Bồ Đào Nha đến đón ở Cửa Chúa (Nghệ An) và đen về Hà Nội. Chúa Trịnh Tráng biết vậy nhưng không nói gì, đến khi tàu bán hết hàng và nhổ neo, chúa sai người đến truyền cho cả bốn giáo sĩ phải rời xứ (tháng 5/1630).
 
Gạt nước mắt từ giã giáo hữu Đàng Ngoài, Giáo sĩ Đắc Lộ đem theo một bức thư của họ viết bằng chữ Hán gởi lên Đức Giáo hoàng Urbanô VIII bày tỏ lòng kính mến trung thành của các giáo hữu Đàng Ngoài lúc ấy[20]. Họ cũng gởi Giáo sĩ Đắc Lộ một thư khác cho Cha Bề trên cả Dòng Tên, thỉnh cầu gởi giáo sĩ đến truyền giáo (Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền giáo ở Việt Nam, tr. 140. Nội dung thư này không khác nhau mấy).
 
IV. CỦNG CỐ GIÁO HỘI ĐÀNG TRONG
 
Sau 3 năm 2 tháng ở xứ Bắc, Cha Đắc Lộ rút lui về Áo Môn, “lòng sầu vô hạn” vì nhớ giáo hữu Việt Nam (…).
 
Sau 10 năm ở Áo Môn, Giáo sĩ Đắc Lộ lại được cử sang xứ Nam lần thứ hai vào tháng 2 năm 1640. Lúc ấy trong xứ có chừng 50.000 giáo hữu (Statistiques A. Brou) mà không có một linh mục nào, vì năm trước, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648) đã trục xuất tất cả các giáo sĩ, và Cha Bề trên Buzomi đã từ trần sau 24 năm tận tụy với Giáo hội này.
 
Sau khi chinh phục được cảm tình của viên bang trưởng Nhật Kiều ở Hội An, giáo sĩ Đắc Lộ được ông ta dẫn lên yết kiến chúa Thượng ở Kim Long. Bao nhiêu tiền mang theo để chi dụng trong một năm, giáo sĩ dùng hết để mua lễ vật dâng tặng cho nhà vương, được vương đối đãi rất có cảm tình. Bà Minh Đức Vương Thái Phi, sau mười bốn năm xa cách, rất sung sướng được gặp lại giáo sĩ; bà mời giáo sĩ về dinh và kêu gọi các giáo hữu đến để chịu các phép bí tích. Ngày nào Cha Đắc Lộ cũng làm lễ trong nhà thờ bà lập ở trong dinh bà. Trong 35 ngày, giáo sĩ rửa tội được 94 người, trong đó có 3 bà có họ gần với nhà vương và một thầy sãi.
 
Đến khi trở về Hội An, tàu Bồ Đào Nha đã trẩy rồi, quan Cai bộ Quảng Nam mà giáo sĩ gọi là “Onghebo” tức Ông Nghè Bộ, ra lệnh cho giáo sĩ phải rời xứ bất cứ bằng cách nào, “dầu phải đi trên mặt nước”. Giáo sĩ buộc lòng phải mua một chiếc thuyền, rồi cùng với một giáo sĩ khác, và ba thanh niên Công giáo tự lái lấy thuyền vượt sóng Thái Bình Dương đi Áo Môn. Thật là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, nhưng “nhờ ơn Chúa dẫn dắt” thuyền đã tới bến bình an ngày 20/09/1640.
 
Ba tháng sau, Cha Đắc Lộ trở lại Đàng Trong lần thứ ba vào ngày áp lễ Sinh nhật 1640 cùng với Giáo sĩ Benoit de Mattos, để rồi lại bị trục xuất vào ngày 2 tháng 7 năm 1641. Trong thời gian này, sau khi hoạt động ít lâu ở Quảng Nam, hai giáo sĩ chia tay, de Mattos lên phía Bắc: Thuận Hoá, Quảng Bình, giáp giới Đàng Ngoài; Đắc Lộ xuống miền Nam: Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên, giáp giới Chiêm Thành. Riêng ở họ Phú Yên, trong hai tháng, giáo sĩ đã rửa tội được 90 người trong số đó cớ một thanh niên 16 tuổi sau này sẽ là vị Tử đạo tiên khởi: thầy giảng Anrê Phú Yên. Cuộc rửa tội này cử hành trong 4 ngày liền ngay trong dinh quan Trấn Thủ Trấn Biên dinh, lúc ấy là ông Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh; và người đứng tổ chức cuộc lễ lại chính là bà vợ quan Trấn thủ, tức công chúa Ngọc Liên, trưởng nữ chúa Sãi, chị ruột chúa Thượng. Bà này tòng giáo từ năm 1636, được rửa tội ngay tại Phú Yên, lấy tên thánh là Maria Mađalêna cũng như bà Minh Đức Vương Thái Phi, hẳn là do gương sáng hoặc ảnh hưởng của bà Minh Đức vậy. (Phạm Đình Khiêm, Người chứng thứ nhất, tr. 58-68).
 
Lần thứ tư Giáo sĩ Đắc Lộ lưu trú ở xứ Nam tương đối lâu hơn cả: từ cuối tháng giêng 1642 đến tháng 9 năm 1643. Chính trong thời kỳ này, giáo sĩ thành lập đoàn thầy giảng Đàng Trong theo kinh nghiệm ở Đàng Ngoài. Trong mười thầy giảng đầu tiên làm lễ khấn ngày 31 tháng 7 năm 1643, sau này sẽ có ba vị tử đạo: Anrê Phú Yên đã nói trên, Ynhaxô Quảng Trị, cựu quan ở Chính Dinh, thủ lãnh các thầy giảng, và Vinh Sơn, Quảng Ngãi cũng 19 tuổi như An Rê. Sau khi Cha Đắc Lộ tạm rời xứ, 10 thầy chia nhau đi khắp nơi thăm viếng bổn đạo và rửa tội được 596 người.
 
Với một lòng trung kiên hiếm có, Giáo sĩ Đắc Lộ còn vượt trùng dương đến xứ Nam lần thứ năm, và là lần chót, vào đầu tháng 3-1644. Đây là giai đoạn “leo núi Sọ” của nhà truyền giáo. Trong khi đoàn tông đồ được cảm tình của chúa Thượng hơn mọi khi và năng lui tới nhà các quan đại thần để thảo luận về tôn giáo, thì bỗng nhiên do mật lệnh của Tống Thị, một dâm hậu phản phúc và ghét đạo, “Ông Nghè Bộ” Quảng Nam cho đến vây nhà Cha Đắc Lộ ở Hội An, bắt thầy giảng An Rê Phú Yên điệu đến Dinh trấn Thanh Chiêm (Dinh Chiêm). Nội ngày hôm sau, 26 tháng 7 năm 1644, An rê Phú Yên anh dũng đổ máu xưng tỏ Đức tin: đó là “Người chứng thứ nhất” của Chúa Giêsu ở xứ Nam, và cũng đáng kể là tiên khởi tử đạo của toàn quốc. Đời sống nhân đức, cái chết anh hùng và các phép lạ lẫy lừng của người từ Việt Nam qua Âu Châu đã chấn động dư luận thời ấy và còn gây ảnh hưởng cho bao thế hệ về sau (Xin xem cuốn Người Chứng Thứ nhất (Tinh Việt 1959).
 
Hai tháng sau, đến lượt chính Giáo sĩ Đắc Lộ bị chúa Thượng ghép án tử hình, sau đổi ra án trục xuất, làm cho giáo sĩ vừa tiếc phúc tử đạo, vừa buồn vì sự biệt ly.
 
Người rời xứ Nam ngày 3 tháng 7 năm 1645, nhưng “lòng và trí lúc nào cũng để cả ở xứ Nam cũng như xứ Bắc”. Tính cả năm thời kỳ, người chỉ ở Đàng Trong không quá năm năm bảy tháng, nhưng đã đem đến cho Giáo Hội này, những tiến triển quan trọng đã củng cố nền tảng của Giáo Hội bằng tổ chức thầy giảng, và nhất là bằng máu các vị tử đạo đầu tiên.
 
V.  SỨ GIẢ CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM TẠI ÂU CHÂU
 
Rời Việt Nam ngày 3 tháng 7 năm 1645, hai mươi ngày sau, Giáo sĩ Đắc Lộ tới Áo Môn. Bề trên Dòng Tên tại đây thấy không thể để người trở lại Đàng Trong được vì làm như thế là khiêu khích nhà cầm quyền ở đó, liền quyết định cử người đi Âu châu để tìm sự giúp đỡ về đường thiêng liêng và thực tế. Trong khi sửa soạn và chờ ngày lên đường, Cha Đắc Lộ dạy tiếng Việt cho hai cha khác có nhiệm vụ đến thế người ở Đàng trong: Cha Metello Saccano và Cha Carlos della Rocca, đều là người Ý.
 
Ngày 20 tháng 12 năm 1645, hai cha này đáp tàu đi xứ Nam thì Giáo sĩ Đắc Lộ đáp tàu đi Âu châu với sứ mạng rõ rệt:
 
- Tâu trình Đức Thánh Cha nhu cầu cần thiết của giáo hữu Việt Nam cần có Giám mục.
 
- Bày tỏ cho các vua chúa Công giáo biết sự thiếu thốn cực độ của các cha ở các xứ truyền giáo tốt đẹp ấy.
 
- Trình bày cùng Cha Bề trên Cả những hy vọng lớn lao về việc làm cho các dân tộc đó trở lại cùng Chúa, nếu có đủ số người truyền giáo rao giảng Phúc Âm.
 
Cha Đắc Lộ định đem một người Trung Hoa, một người ở xứ Bắc và một người xứ Nam đi Âu Châu với người để giới thiệu ba Giáo Hội mới đó, song vì có ý kiến Bề trên, người chỉ đem theo một người Trung Hoa. Nhưng một sứ giả vô hình của Giáo hội Việt Nam, vị tử đạo An Rê Phú Yên, đã đi theo Cha Đắc Lộ, và đã đóng giữ vai trò then chốt trong công cuộc lớn này, như sau đây chúng tôi sẽ nói rõ.
 
Sau 25 ngày vượt biển trong một đoàn gồm tám chiếc tàu lớn của người Bồ Đào Nha, cha Đắc Lộ đến Malacca (Nam Dương quần đảo) ngày 14 tháng Giêng năm 1646, chính là ngày người Hoà Lan kỷ niệm cuộc chiếm đoạt đảo này được 6 năm. Cha Đắc Lộ nhớ lại 23 năm trước, khi đi qua đây, đã chứng kiến bao nhiêu công cuộc công giáo do người Bồ Đào Nha gây dựng mà nay chỉ còn đống tro tàn dưới ảnh hưởng bài Công giáo của người Hoà Lan, giáo sĩ đã phải đau lòng lắm.
 
Tuân theo lời dặn của Bề trên, người rời đoàn tàu Bồ Đào Nha, nhờ đáp tàu Hoà Lan để về Âu châu cho mau chóng hơn, vì lẽ tầu Bồ Đào Nha thường ghé ở lại Goa (Ấn Độ) rất lâu. Sau 40 ngày chờ đợi vô hiệu, người liền đi Djakarta (thủ đô Nam Dương) hy vọng ở đấy có nhiều chuyến tàu đi Âu châu hơn.
 
Không ngờ vì lòng sốt sắng, vị Tông đồ lại bị nhà cầm quyền ở đây bắt giam cực khổ luôn trong 3 tháng, chỉ vì khi đến nơi, và trong thời gian chờ đợi (năm tháng) người đã truyền bá đức tin Công giáo giữa những người Hoà Lan thệ phản. Được giải phóng, giáo sĩ đi Bantan (đảo Java) định nhờ tàu Anh Cát Lợi về Âu châu song người bị từ chối từ cũng vì vấn đề chia rẽ tôn giáo. Ngày 25 tháng 10 năm 1646, Cha Đắc Lộ rời Java trên một chiếc tàu Bồ Đào Nha đi Macassar, trong quần đảo Célèbes. Sau 5 tháng đợi ở đây, lần này người được một tàu Anh Cát Lợi nhận chở về Âu châu. (…)
 
Ra đi đầu tháng 3 năm 1648, Giáo sĩ Đắc Lộ nhập bọn với đoàn lữ hành qua Chiras và Ispahan, đều là cố đô Ba Tư; Tauris, cố đô xứ Médie, nay là Azerbaidjan bị Nga Xô chiếm cứ; Irvan, thủ phủ Xứ Arménie Thượng, dưới chân một ngọn núi cao chót vót và người ta nói xưa kia tàu ông Noe đậu trên đó sau kỳ Đại hồng thuỷ, nay cũng bị Nga Xô thôn tính. Sau đó, giáo sĩ qua xứ Arménie Hạ và xứ Anatolie là đất của người Thổ Nhĩ Kỳ. Đến Hải Cảng Smyrne ngày 17 tháng ba năm 1649, giáo sĩ đáp tàu buôn của người Ý, vượt Địa Trung Hải, qua đảo Sicile, sau cùng về đến La Mã hai ngày trước lễ thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, 27 tháng 6 năm 1549. Cuộc hành trình mà ngày nay ta có thể thực hiện trong 20 tiếng đồng hồ bằng phi cơ phản lực đầy đủ tiện nghi, Giáo sĩ Đắc Lộ phải kéo dài trong 3 năm 6 tháng, trong đó 12 tháng đi bộ, vượt bao hiểm nguy và cực nhọc vì tương lai Công giáo Việt Nam.
 
Về tới Thủ đô Giáo Hội, Cha Đắc Lộ lo thi hành ngay sứ mạng của người. Người đã yết kiến Giáo hoàng Innocentê X nhiều lần và “hằng ngày đã đến gõ cửa các đức hồng y” – như lời người nói – “để tường tình về các Giáo hội mới kia đang giơ tay ra và hỏi đường lên thiên đàng.” (A. R., Voy. Et Miss., tr. 435)
 
Người đã đệ hai bản điều trần, một lên các Đức Hồng y ở Bộ Truyền giáo, ngày 2 tháng 8 năm 1650, và một lên chính Đức Giáo hoàng ngày 6 tháng 3 năm 1651. Trong cả hai tài liệu đó, người trình bày đại khái: Hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài nước Việt Nam là một Giáo hội đã có đến 300.000 giáo hữu và mỗi năm tăng thêm ít nhất 15.000 linh hồn, rải rác trên một diện tích bằng cả nước Ý, vậy mà chưa một giáo hữu nào được chịu phép Thêm sức và rất nhiều người chết không được chịu phép Bí tích sau hết, đã vậy lại còn bị bách hại, và đã có bảy người tử vì đạo. Để giúp đỡ một Giáo Hội như vậy, đáng lẽ phải cần gởi đi từ 300 đến 400 linh mục mới đủ, nhưng trong thực tế không thể nào thực hiện được một chương trình như vậy, ấy là chưa nói đến sự khó khăn về phương diện chính trị ở các xứ truyền giáo. Kết luận, giáo sĩ đề nghị thiết lập ngay hàng giáo sĩ bản quốc, và muốn vậy, cần phải cử các vị Giám mục sang để phong chức cho các linh mục bản quốc chọn trong số các thầy giảng.
 
Lúc ấy việc truyền giáo ở các xứ Viễn Đông còn tuỳ thuộc sự “bảo trợ” (Patronat) của vua nước Bồ Đào Nha, mà chế độ bảo trợ này đã đến lúc tỏ ra có nhiều trở ngại cho sự tiến triển của việc truyền giáo. Vì vậy giáo sĩ Đắc Lộ đề nghị một giải pháp đặc biệt: Các vị giám mục sẽ do Tòa Thánh cử thẳng sang Viễn Đông không phải qua Kinh đô Bồ Đào Nha như trước và sẽ mang tước hiệu đặc biệt là “Đại diện Tông toà” (Vicaire Apostolique) tại các dân ngoại (in partibus infidelium), chứ không phải là “giám mục chính toà” (Evêques résidentiels).
 
Sau khi thảo luận nhiều lần, ngày 1 tháng 8 năm 1651, các Hồng y đề nghị lên Đức Giáo hoàng cử sang Đông Dương một vị Thượng phụ Giáo chủ (Patriarche) hai hoặc ba vị Tổng Giám Mục và 12 giám mục đều có tước hiệu “in partibus infidelium”. Đề nghị ấy bị trả về để nghiên cứu lại.
 
Ba năm đã qua, mà kết quả chưa đạt, Giáo sĩ Đắc Lộ rời La Mã đi Ba Lê (11/09/1952) để vận động cho công cuộc truyền giáo và lựa chọn người có thể sung chức Giám mục ở Việt Nam. Tại đây, giáo sĩ làm quen với nhóm “Les Bons Amis” đầy tinh thần truyền giáo, nhiệt liệt hưởng ứng chương trình của người, nhất là cha François Pallu, sau này sẽ là một trong hai vị Giám mục đầu tiên ở Việt Nam và cũng là người sáng lập Hội Truyền giáo Ngoại quốc tại Paris. Nhiều bậc thế giá cũng hưởng ứng bằng cách quyên cúng tiền bạc. Sau cùng, chính Đại hội Hàng Giáo phẩm Pháp hai lần gởi tỉnh nguyện lên Đức Giáo hoàng, xin cử các Giám mục sang coi sóc Giáo hội Việt Nam. Bản thỉnh nguyện thứ hai đề ngày 29 tháng 9 năm 1653 có cả chữ ký của bộ Thánh đại - danh Vinh Sơn Phaolô, mà năm 1690 cũng là năm kỷ niệm tam bách chu niên huý nhật.
 
Đến đây cuộc vận động của Cha Đắc Lộ sắp đạt tới thành công, thì cũng là lúc mà người học sử phải đếm xỉa đến vai trò vô hình nhưng có tính cách quyết định của vị sứ giả Việt Nam: Thầy giảng Anrê Phú Yên tử đạo.
 
Lúc rời Đàng Trong lần chót, Giáo sĩ Đắc Lộ mang theo bên mình một nguồn an ủi duy nhất: thủ cấp của vị Tử đạo tiên khởi Việt Nam, người con thiêng liêng từ nay đã trở nên “vị thủ bảo hộ” của người – theo chính lời người nói. Tàu đi đến ngang đảo Hải Nam thì gặp phong ba dữ dội, tưởng chết không đất cứu. Giáo sĩ cầm đầu của vị tử đạo lên, bảo mọi người quỳ xuống cầu nguyện. Chưa đọc hết kinh cầu Đức Mẹ, thì tức khắc bão tố dừng lại, mọi người la lên “Phép lạ! Phép lạ!”. Và giáo sĩ đã tới Áo Môn bình an. Đến khi được cử đi La Mã, người quyết định đem thủ cấp vị Tử đạo Việt Nam về tận Giáo Đô để chứng đức tin của dân Việt. Khi đến biển Nam Dương (25 tháng 2 năm 1646), tàu của giáo sĩ đụng đá ngầm, vỡ một miếng lớn. Chính lúc ấy, thủ cấp của vị Tử đạo lại được đưa lên cho mọi người cầu nguyện. Và Đức Chúa Trời đã làm một phép lạ lẫy lừng khác đến hiển danh Tôi tớ Chúa và cứu Giáo sĩ Đắc Lộ: Đá đã tự động vá vỏ tàu, và tất cả hành khách đã được bình an vô sự!
 
Chẳng những bao nhiêu công cuộc vận động của Cha Đắc Lộ về sau đều tuỳ thuộc ở ơn cứu tử ấy, mà chính vị Tử đạo An Rê còn làm nhiều phép lạ khác ở giữa “Kinh đô Ánh sáng”, (1653) gây nên một trào lưu thiện cảm nồng nhiệt ở Ba Lê đối với công cuộc truyền giáo ở Việt Nam, và như vậy là trực tiếp giúp vào sự thành công của sứ mạng cha Đắc Lộ. Tất cả các sự việc này đều được giáo sĩ Đắc Lộ ghi chép cặn kẽ nhiều lần trong các tác phẩm của người.
 
VI. THUỶ TỔ CÁC TÁC PHẨM SÁCH QUỐC NGỮ
 
Ngoài sự nghiệp truyền giáo, Cha Đắc Lộ còn thực hiện một sự nghiệp văn hoá cực kỳ quan trọng trong sự tiến hoá của xã hội Việt Nam.
 
Nguyên trước kia, người Việt Nam chỉ dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm làm phương tiện diễn đạt và truyền bá tư tưởng. Hai lối chữ này đều rất khó học, khó nhớ, nên sự phổ biến có phần hạn chế. Khi các giáo sĩ Âu châu tới giảng đạo, các ngài sáng chế ra một lối viết tiếng Việt theo mẫu tự La Mã, thoạt đầu chỉ có ý cho dễ nhớ bài học Việt Ngữ. Đến lượt cha Đắc Lộ, ngài đã làm cho lối phiên âm đó hoàn hảo hơn, đã bắt đầu dùng lối chữ đó để soạn sách, và đến khi về La Mã, đã nhờ ấn quán của Toà Thánh đúc riêng lối chữ mới để ấn hành các sách đó. Như vậy, người là vị có công nhất trong việc thành lập “chữ Quốc ngữ” và chính là thuỷ tổ các sách Quốc ngữ vậy.
 
Những tác phẩm căn bản đó là:
 
1) Cuốn giáo lý Latinh và Quốc ngữ đối chiếu, nhan đề Cathechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus – Phép giảng tám ngày cho kẻ muẩn (muốn) chịu phép rửa tội mà beào (vào) đạo thánh đức Chúa blời (Trời, lời). Cuốn này, giáo sĩ bắt đầu soạn từ lúc giảng đạo ở Đàng Ngoài, và khi còn là bản thảo, đã được dùng vào việc truyền giáo ở Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong, nhất là để huấn luyện các thầy giảng, sau được ấn hành tại La Mã năm 1651. Sách này đã được dịch ra tiếng Xiêm và mới đây Đức Cha Chappoulie đã dịch ra tiếng Pháp in trọn vẹn trong bộ “Rome et les Missions d’Indochine au XVII è siècle” Paris, 1943.
 
2) Cuốn tự điển Việt Bồ La, nhan đề Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, in tại La Mã cũng năm 1651, dầy gần 500 trang. Để soạn sách này, tác giả đã nhờ sự cộng tác của người Việt Nam, nhất là các thầy giảng, giúp người học tiếng trong gần 12 năm hoạt động ở Đàng Ngoài, và cả các nhà truyền giáo khác, nhất là giáo sĩ Francesco de Pina, Dòng Tên. Tác giả cũng lợi dụng bản thảo cuốn tự vị Việt Bồ (Annamiticum - Lusitanum) của Gaspard de Amaral, và cuốn Bồ Việt (Lusitanum – Annamiticum) của Antonio Barbosa, cả hai đều là giáo sĩ Dòng Tên, đã đến giảng đạo một tời kỳ ở Đàng Ngoài sau Cha Đắc Lộ và đã từ trần năm 1646–1647.
 
3) Cuốn văn phạm Việt Nam nhan đề Linguae Annamiticae seu Tunchinensis brevis declaratio. Cuốn này đóng chung một tập với cuốn tự điển trên, song thực là một văn phẩm riêng biệt, chia làm tám chương đánh số trang riêng không tuỳ thuộc vào cuốn Tự điển. Chính giáo sĩ Đắc Lộ cũng kể đó là một cuốn sách riêng (A. R. Voyages et Missions, tr. 89).
 
Cả ba cuốn sách kể trên thật là những tài liệu vô giá chẳng những vì đã cống hiến cho chữ Quốc ngữ một hình thức xác định và một địa vị vững chắc, nó còn là viên đá đầu tiên của ngữ học, văn học và truyền giáo học ở Việt Nam.
 
Ngoài ra, trong thời kỳ ở Âu châu, Giáo sĩ Đắc Lộ còn cho ấn hành nhiều tác phẩm ngày nay đã trở nên những sử liệu quý giá cho Việt Nam về cả các phương diện lịch sử, địa dư, tôn giáo, phong tục… Quan trọng nhất là cuốn “lịch sử xứ Bắc Kỳ” bằng tiếng Ý (1650), tiếng Pháp (1651) và tiếng Latinh (1652); và cuốn “Hành trình và Truyền giáo” bằng tiếng Pháp (1653) sau được dịch ra tiếng Đức (1858)… Ngoài ra giáo sĩ còn tường thuật đầy đủ về cuộc tử đạo của Thầy giảng An Rê trong một cuốn sách tiếng Ý (1652) sau lại viết ra tiếng Pháp (1653).
 
VII. NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI
 
Tuổi lục tuần, thường tình là tuổi nghỉ ngơi, hưu dưỡng, người ta tìm về quê hương vui thú điền viên. Giáo sĩ Đắc Lộ, trái lại, giữa 61 tuổi, lại rời quê hương ra đi một lần nữa, với sứ mạng lãnh đạo một cơ sở truyền giáo của Dòng Tên ở một xứ hoàn toàn xa lạ: nước Ba Tư.
 
(…)
 
Lúc cuộc đời xế bóng, người được vui mừng thấy những cuộc vận động nhiệt thành của mình mấy năm trước đã được hoàn toàn thực hiện. Ngày 29 tháng 7 năm1658, Đức Giáo hoàng Alexandre VII  ký sắc bổ nhiệm hai vị Giám mục để gởi sang Việt Nam. Năm sau lại có đạo sắc ngày 9 tháng 9 thành lập và qui định ranh giới hai địa phận công giáo đầu tiên ở Việt Nam: Đàng Trong và Đàng Ngoài. Trong một bức thư đề ngày 3 tháng 6 năm 1659, Giáo sĩ Đắc Lộ đã biểu lộ sự hoan hỉ về kết quả tốt đẹp ấy.
 
(…) Theo chứng cớ của người đồng thời, Giáo sĩ Đắc Lộ từ trần, những người Hồi giáo tuy không cùng tín ngưỡng, nhưng họ coi người như một đấng thánh, một người thượng trí, và họ đổ xô nhau đi theo quan tài của người, làm thành một đám tang hiếm có  ở kinh đô xứ “Ngàn lẻ một đêm” này. Anh em trong Dòng cũng tôn kính người như bậc đáng kính vì người đã thực hành mọi nhân đức và lập công nghiệp vô vàn (Ménologe: Alexandre de Rhodes).

PHẠM ĐÌNH KHIÊM [21]
 
CHƯƠNG II

PHÂN TÍCH CÁC TÁC PHẨM CHỮ QUỐC NGỮ CỦA ALEXANDRE DE RHODES[22]

 
A -  Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt
 
B- Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác.
 
C- Một nền văn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với Giáo sĩ Alexandre de Rhodes”: Một số tự điển và bài viết trong Văn học Nhà Đạo.
 
Phân tích các tác phẩm chữ Quốc ngữ của Alexandre de Rhodes
 
Trước khi nhận định phần đóng góp của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong công cuộc sáng chế chữ Quốc ngữ và hình thành ngôn ngữ Công giáo, chúng ta hãy lần lượt giới thiệu 3 tác phẩm chữ quốc ngữ của giáo sĩ là Tự điển Việt-Bồ-La, Văn phạm Việt ngữ và Phép Giảng Tám Ngày.
 
A. Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt
 
1. Tự điển Việt-Bồ-La

 
Cuốn này in tại Rôma ngày 5 tháng 2 năm 1651 do Thánh bộ Truyền giáo xuất bản với tên sách: Dictionarum Annamiticum Lusitanum et Latinum.
 
Trong bài tựa bằng tiếng Latinh, tác giả cho chúng ta biết về quá trình soạn thảo và xuất bản cuốn tự điển này.
 
Theo tác giả, mục đích xuất bản cuốn tự điển là để giúp ích cho công cuộc truyền giáo. Về sự quan trọng của tiếng Việt, tác giả viết: “Tiếng Việt Nam là thứ tiếng không những cho hai xứ khác rộng lớn là xứ Đàng Ngoài và xứ Đàng Trong, thêm vào đó ta còn phải kể đến xứ Cau Bằng là một xứ cũng đang thuần tiếng Annam, mà còn chung cho nhiều xứ lân cận, Ciampa, Laorum và Siam”[23]. Tác giả còn cho biết đã học tiếng Việt với những người bản xứ trong thời gian 12 năm ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nhất là với các giáo sĩ khác như Giáo sĩ Francesco de Pina. Tác giả lợi dụng cuốn tự điển Việt Bồ của Gaspar d’Amaral và cuốn tự điển Bồ Việt của Antonio de Barbosa và chua thêm tiếng Latinh[24].
 
Cuốn tự điển này dày gần 500 trang, mỗi trang chia làm hai cột, đánh số theo cột chứ không theo trang.
 
Tác giả sưu tập những tiếng đơn và thành ngữ thông dụng.
 
Chẳng hạn như tiếng ác, tác giả lần lượt đưa ra tiếng đồng nghĩa dữ và các thành ngữ: ác tâm (làõ dữ = lòng dữ) đại ác (dữ lắm), chơi ác, hay ác, ác nghiệp.
 
Về tiếng ăn, tác giả lần lượt đưa ra các thành ngữ: ăn cơm, ăn mầng, ăn tết, ăn mày, ăn mót, ăn via, ăn táp, ăn chay, ăn chay cả, ăn kiêng, ăn lại, ăn tiền, ăn géy, ăn chỉ, ăn lở, ăn lãi, của tàu ăn, géy ăn mực, buầm ăn rỡu, buầm ăn gió, ăn năn tội, ăn trộm, ăn cướp, cưa ăn gỗ.
 
Tác giả còn định nghĩa theo nhận định của người đương thời. Chẳng hạn như tiếng Bà lão là một bà đáng kính, bà già là người đàn bà đã có tuổi, bà sang là một vị cung phi của nhà vua đã quá cố. (Theo Thanh Lãng, sđd, trang 22).
 
Cuốn tự điển Việt-Bồ-La của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes không những là hoá thân của các tự điển của Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa, mà còn là tài liệu chắc chắn về hình thức chữ Quốc ngữ. Nhờ công trình san định và dịch nghĩa của Alaxandre de Rhodes mà chúng ta có tài liệu để tìm hiểu sự tiến hóa của ngôn ngữ văn tự Việt Nam.
 
2) Văn phạm Việt ngữ
 
Như trên đã nói, đây là một tác phẩm riêng biệt bằng tiếng Latinh đóng chung vào với cuốn tự điển Việt-Bồ-La và mang tựa đề: Linguae annamticae seu Tunkinensis Brevis Declaratio (Tiểu lược về tiếng Việt hay tiếng Đông Kinh).
 
Mở đầu tác giả nói chung về những đặc tính căn bản của tiếng Việt. Theo tác giả, tiếng Việt cũng như tiếng Hoa, tiếng Nhật không có giống loại, từ ngữ không biến thể như các thứ tiếng Tây phương. Để chỉ định thời gian cho động từ, có những tiếng thêm vào động từ. Các dấu giọng lên xuống là linh hồn của tiếng Việt.
 
Tiếp theo là 8 chương bàn về văn phạm Việt ngữ.
 
Chương I: De littéris et syllabis quibus haec linguae constat (Bàn về chữ và vần cấu tạo nói tiếng Việt)
 

Sau khi luận rằng chữ nôm khó học, có thể có hơn 80.000 tiếng khác nhau nên khó mà thông thạo hết được, tác giả bàn về các mẫu tự chữ Quốc ngữ: “Tiếng Bắc kỳ có hết các chữ như tiếng chúng ta, chỉ tiếu có chữ z. Thực ra học không có chữ F của chúng ta mà chỉ có chữ ph hay đúng hơn chữ phỉ Hy Lạp. Tuy vậy chúng tôi có dùng chữ ph cho dễ dàng hơn và tiện lợi hơn, cần sao tránh được sự hiểu lẫn lộn. Ngoài ra, còn phải trên 4 chữ mới để phát âm mấy tiếng riêng biệt mà trong tiếng Âu Châu không có. Bốn chữ đó là 2 chữ nguyên âm ơư và hay chữ phụ âm bđ[25].
 
Tác giả lần lượt giải thích các nguyên âm và phụ âm a, b, c, d, đ, e, f đúng hơn là ph) g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, x.
 
Chương II: De accentubus et aliis signis in vocalibus (Bàn về âm thanh và các dấu của nguyên âm)
 
Tác giả cho rằng linh hồn của tiếng Việt ta ở các dấu lên xuống và sáu dấu lên xuống trong tiếng ta như 6 dấu trong nhạc lý Âu châu.
 
Tác giả có tiểu xảo đưa ra tiếng Việt tương đương với nốt nhạc để chứng minh lập luận: dò (pedica) rệ (radix), mi (nomen cojusdam familiae) pha (miscere) sổ (cathalogus) lá (folium). (…)
 
Chương III: De Mominibus (bàn về danh từ)
 
Tác giả chia làm hai hoạt danh từ: một loại thuần tuý là danh từ, không thể trở nên lại tiếng khác được như: Trời, Đất, Người, một loại vừa có thể là danh từ, vừa có thể là động từ, tùy phận sự của nó trong câu, như chèo vừa là cái chèo, vừa là công việc chèo.
 
Bàn về số ít nhiều của danh từ, tác giả nêu ra ba cách chỉ số nhiều:
 
Cách thứ nhất là thêm trước danh từ những tiếng như: những, mớ, chúng.
 
Cách thứ hai là thêm những tiếng tổng hợp như coên (quân), các, mọi, nheo (nhiều), muấm (muốn) hết.
 
Cách thứ ba là dùng những tiếng chỉ giống chỉ loại như: muâng (muông) chim, cây cối, hoa quả.
 
Chương IV: De Pronominibus (Bàn về đại từ)
 
Tác giả xác nhận tính cách phong phú và phiền phức của các đại từ Việt Nam và giải thích từng đại từ.
 
Chương V: De adjectibus (Bàn về trạng từ)
 
Chương VI: De verbis (Bàn về động từ).
 
Chương VII: De reliquis orationis partibus indeclinabilibus (Bàn về những loại tiếng không có dạng)
 
Chương VIII: De praecepta quaedam ad syntaxim pertinentia (Bàn về nguyên tắc liên quan đến cú pháp).
 
Tác giả nêu tám nguyên tắc:
 
Nguyên tắc 1: Chủ từ phải đi trước phải đi trước động từ, nếu không, chủ từ không còn là chủ từ nữa. Thí dụ:
 
Mầy cười
 
Cười mầy
 
Nguyên tắc 2: Danh từ nào đi theo động từ thì là túc từ của động từ ấy. Thí dụ:
 
Tôi mến Chúa.
 
Chúa mến tôi.
 
Nguyên tắc 3: Tiếng chủ động phải đặt trước tiếng trạng từ giúp nghĩa cho nó. Thí dụ:
 
Chúa cả, thằng nhỏ.
 
Nguyên tắc này cũng có trường hợp ngoại lệ. Thí dụ:
 
Cả lào (cả lòng), cả gan.
 
Nguyên tắc 4: Hai danh từ đặt liền nhau thì danh từ thứ hai là túc từ cho danh từ thứ nhất: Thí dụ:
 
Chúa nhà.
 
Nhà Chúa.
 
Nguyên tắc 5: Trạng từ thường có ý nghĩa một động từ vì thế thường không cần phải dùng đến động từ, nhất là khi trước trạng từ còn có một tiếng chỉ định rõ ràng. Thí dụ:
 
Núi nầy cao
 
Thằng ấy lành.
 
Áo này cũ.
 
Mlời Chúa thật.
 
Nguyên tắc 6: Tiếng Việt ít dùng liên từ, bỏ đi thì lời nói trở nên văn hoa hơn. Thí dụ như câu: kẻ có đạo thì thức sớm đaọc (đọc) kinh, lần hột, đi xem lễ, thí của cho kẻ khó, làm phúc…
 
Nguyên tắc 7: Phải lập lại động từ trước từng động từ một. Thí dụ:
 
Tôi lạy thầy, tôi bởi làng mà đến, tôi đã nhaọc (nhọc), tôi xin xưng tội, tôi xin chịu mình Chúa.
 
Nguyên tắc 8: Có những tiếng Việt có vẻ sang trọng đài các khó có thể dịch ra bằng một tiếng ngoại ngữ, chẳng hạn tiếng thì vừa đề chỉ nguyên nhân (có muấn (muốn) thì làm), vừa để chỉ tính cách đối lập (có kẻ thì lành, có kẻ thì dữ) (Theo Thanh Lãng, sđd, trang 55-56 ).
 
Cuốn Văn phạm Việt ngữ là một tài liệu về hệ thống phiên âm Việt ngữ phôi thai và chứng tỏ tác giả hiểu rõ đặt điểm âm thanh và cú pháp của tiếng Việt.
 
B- Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác
 
Phép Giảng Tám Ngày

 
Tác phẩm này do Thánh bộ Truyền giáo ấn hành tại nhà in của Thánh bộ tại Rôma năm 1651 nhan đề là: Cathechismus pro illo qui volunt sulcipere baptisnum in octo dies divisus. Phép Giảng Tám Ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà bèao (vào)  đạo thánh đức Chúa Blời.
 
Sách dày 324 trang khổ 17 x 23 in bằng hai thứ tiếng song song, bên trái là La ngữ, bên phải là Việt ngữ. Để tiện việc so sánh, tác giả ghi mẫu tự theo thứ tự từ a đến z trước mỗi câu La ngữ và Việt ngữ tương đương.
 
Theo hiện tình nghiên cứu, chúng ta không biết ấn bản đầu tiên gồm bao nhiêu cuốn cũng như không rõ sách có được tái bản hay không. Có điều chắc chắn là cuốn phép giảng tám ngày được sao chép rất nhiều hoặc bằng chữ quốc ngữ hoặc bằng chữ nôm, và được phiên dịch ra tiếng Thái Lan và tiếng Pháp.
 
Chúng ta không rõ sách được soạn thảo năm nào, chỉ biết rằng năm 1649 khi về đến Rôma, tác giả đã dự liệu xuất bản cuốn Phép giảng tám ngày, cuốn Tự điển Việt-Bồ-La và Văn phạm Việt ngữ. Nguyễn Khắc Xuyên ức đoán rằng cuốn Phép giảng tám ngày “đã được biên soạn hay khởi thảo từ những năm 1627 - 1629” (Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo sĩ A-lịch-sơn Đắc-lộ với chữ quốc-ngữ bđd, trang  97). Điều có thể tin được là sách này được soạn thảo trong kinh nghiệm truyền giáo, sao chép tay bằng chữ quốc ngữ hay chữ nôm để thông dụng trong các giáo đoàn, sau này được tác giả tăng bổ trước khi ấn hành năm 1651.
 
Theo sự nghiên cứu của André Marillier, “bản văn La ngữ của cuốn Phép giảng tám ngày không phải là quá đơn giản sơ lược, cũng không phải là theo cú pháp cổ điển: nhiều lúc chỉ là phiên dịch thẳng từ câu văn Việt ngữ” (Xem tái bản của Tinh Việt xuất bản, Sài Gòn, 1961. Chúng ta hãy lưu ý đến lối chính tả đương thời, đặc biệt về lối viết hoa các vế các nhận định). Cũng như tác giả đã thêm phần chú giải La ngữ trong cuốn Tự điển theo lệnh của các đức hồng y, tác giả đã phụ thêm thoại La ngữ để cuốn Phép giảng tám ngày giúp ích cho các thừa sai.
 
Sách chia làm tám ngày như nhan đề đã nói rõ, mỗi ngày là một chương, không ghi đại mục và tiểu mục. Trong khi sao lục để tái bản, Andre Marillier có dựa vào nguyên tác để đặt đại mục và tiểu mục (Xem tái bản của Tinh Việt xuất bản, Sài Gòn, 1961. Chúng ta hãy lưu ý đến lối chính tả đương thời, đặc biệt về lối viết hoa các vế của nhân danh) giúp ta thấy rõ bố cục toàn sách và toàn chương như sau:
 
Ngày thứ nhất: “Đạo thánh đức Chúa Trời”
 
- Đời này, đời sau
 
- Trời và đức Chúa Trời
 
- Ba đấng bề trên
 
- Ba đấng thưởng phạt
 
- Đạo Chúa không phải đạo Pha lang
 
Ngày thứ hai: Đức Chúa trời
 
- Đức Chúa trời là cội rễ đầu
 
- … chứ không phải loài người
 
- cũng không phải một thể chất nào
 
- Cội rễ đầu là đấng thế nào?
 
- Ba loài như bậc thang
 
- Phép tắc vô cùng
 
- Tính vô cùng
 
- Hằng sống vô cùng
 
- Lòng lành vô cùng
 
- Công bằng vô cùng
 
- Ta phải đối lại thế nào với những sự trọn lành của Chúa.
 
Ngày thứ ba: Đức thợ cả
 
- Ngày thứ nhất: chín đấng Thiên thần
 
- Lucifer và đức thánh Michael
 
- Năm ngày sau
 
- Loài người: ông Adam
 
- Bà Eva
 
- Ngày thứ bảy
 
- Trong vườn vui vẻ
 
- Tổ tông phạm tội.
 
Ngày thứ tư: Những đạo vạy
 
- Con cháu ông Adam
 
- Ông Noe và lụt cả
 
- Tháp Babel
 
- Nước Đại minh phân ra nhiều đạo vậy
 
- Đạo bụt: giáo ngoài và giáo trong
 
- Đạo Lão
 
- Đạo Nho: Việc thờ ông Khổng
 
- Những sự dối trá của Thích ca về linh hồn ta
 
- Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ
 
- Linh hồn ta chẳng hay chết
 
Ngày thứ năm: Một đức Chúa Trời Ba Ngôi–Đức Chúa trời ra đời cứu thế.
 
- Sáng siêu nhiệm [26]
 
- Một Đức Chúa Trời ba ngôi
 
- Đức Chúa Trời ra đời cứu thế
 
- Đức bà Maria đồng thân
 
- Thiên thần truyền tin
 
- Đức Mẹ Chúa Trời
 
- Đức Mẹ viếng bà thánh Elisabeth
 
- Ông thánh Joseph định để bạn mình
 
- Đức Chúa Jesus sinh đẻ ở Bethléem
 
- Đức Mẹ vẫn còn đồng thân
 
- Kẻ chăn chiên đến thờ lạy.
 
- Ba vua dâng cúng của lễ.
 
- Lạy ảnh tượng Đức Mẹ và đức Chúa Con.
 
Ngày thứ sáu: Thầy thuốc cả
 
- Chúa Jesu tại Nazareth
 
- Chúa Jesu giảng đạo “gratia”.
 
- Chúa Jesu làm nhiều phép lạ
 
- Phép lạ đầu hết ở Cana
 
- Phép lạ bắt cá
 
- Chúa Jesu làm cho bánh ra nhiều
 
- Người đàn bà tật huyết
 
- Con gái ông câu đàng nhà thánh.
 
- Con trai bà góa
 
- Chúa Jesu bỏ mình là Đức Chúa Trời
 
- Người Seribae và Pharisaei ghen ghét chúa Jesu
 
- Người đau nặng đến ngày thứ bảy
 
- Người liệt chân tay
 
- Người tối mắt từ thủa mới sinh
 
- Chúa Jesu biến hình
 
- Ông Lazaro sống lại
 
- Người Iudaeo lo toan giết Chúa Jesu
 
Ngày thứ bảy: con chiên lành và chó sói dữ
 
- Thằng Juda nộp Chúa Jesu cho oan gia
 
- Quân dữ đến bắt Chúa Jesu
 
- Đến thày cả Caipha
 
- Trước quan tòa Pontio Pilato
 
- Lên núi Calvaria
 
- Chúa Jesu bị đóng đanh
 
- Chúa Jesu linh hồn ra khỏi xác
 
- Trước ảnh Chúa Jesu bị đóng đanh
 
- Viếng địa ngục “limbo”
 
- Chúa Jesu trong mả
 
- Chúa Jesu sống lại
 
- Hiện ra cùng đầy tớ
 
- Chúa Jesu lên trời
 
- Chúa Spirito Sancto hiện xuống
 
- Dân Jerusalem tan hoang
 
Ngày thứ tám: Mười bậc thang lên thiên đàng
 
- Phán xét chung
 
- Những dấu hiện báo trước
 
- Mọi người đều sống lại
 
- Chúa Jesu lại xuống thế phán xét
 
- Lên thiên đàng hay xuống địa ngục
 
- Mười điều răn
 
- Lời răn thứ nhất
 
- Lời răn thứ hai
 
- Lời răn thứ ba
 
- Lời răn thứ tư
 
- Lời răn thứ năm
 
- Lời răn thứ sáu
 
- Lời răn thứ bảy
 
- Lời răn thứ tám
 
- Lời răn thứ chín và thứ mười
 
- Dọn mình chịu phép rửa tội
 
- Những điều trở ngại.”
 
Qua sự phân tích trên đây, chúng ta thấy bố cục của cuốn Phép giảng tám ngày rất chặt chẽ, nội dung cốt trình bày giáo lý trong màu sắc minh giáo, thích hợp với văn hóa và xã hội Việt Nam trong tiền bán thế kỷ XVII.
 
***
 
Với ba tác phẩm này, chữ quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác. Một nền văn học công giáo bằng chữ quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes[27].
 
C- Một nền Vvăn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với Giáo sĩ Alexandre de Rhodes”: Địa vị của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong văn học. Chúng tôi xin chia ra 2 tiểu mục chính:
 
I. GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES VÀ CÔNG TRÌNH HOÀN THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ[28]
 
Khi Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, đến Việt Nam năm 1625 công việc La Mã hoá chữ Quốc ngữ đã bắt đầu[29] nhờ ảnh hưởng của các công trình La Mã hoá Nhật ngữ và phiên âm Hoa ngữ[30].
 
Hoàn cảnh khách quan thúc đẩy Giáo sĩ Alexandre de Rhodes theo dõi phong trào, và nhờ khả năng đặc biệt về ngôn ngữ, giáo sĩ đã hoàn thành việc sáng chế chữ quốc ngữ một cách tốt đẹp.
 
1- Khả năng đa ngữ
 
Như đã trình bày trong phần tiểu sử [31], lúc đặt chân lên đất Ấn Độ, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã thông thạo 3 ngôn ngữ cổ và 3 sinh ngữ thông dụng, 3 ngôn ngữ cổ là tiếng Dothái, tiếng Hylạp, tiếng Latinh. Ba sinh ngữ thông dụng là tiếng Pháp, tiếng Ý là tiếng nói trong thủ đô Giáo hội Rôma, tiếng Bồ là tiếng phổ thông trong đế quốc Đồ Đào Nha.
 
Vừa đến Goa, giáo sĩ bắt đầu học tiếng bổn xứ, và chỉ trong 3 tháng giáo sĩ đã có thể giao thiệp và giảng dạy bằng tiếng canarin (Xem Alexandre de Rhodes, Divers voyages et Missions… Lille 1854).
 
Đến Áo Môn, giáo sĩ bắt đầu tiếp xúc với chữ Hán và bắt đầu học chữ Nhật vì giáo sĩ được chỉ định đến truyền giáo ở Nhật Bản. Theo Nguyễn Khắc Xuyên (Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo sĩ A-lịch-sơn Đắc Lộ với chữ Quốc ngữ, bđd, trang 94) “mặc dù giáo sĩ có lẽ không viết được Hán tự, song ngài có thể tạm nói được tiếng Trung Hoa (và có lẽ cả tiếng Nhật). Tắt một lời, trong cuốn Văn phạm…, ngài đã có lần so sánh các âm vận Nhật ngữ.”
 
Nhưng ý Chúa Quan Phòng lại đưa Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong và giáo sĩ có dịp học hỏi Việt ngữ. Giáo sĩ thú nhận: “Vừa tới miền Nam và nghe người bản xứ nói với nhau, nhất là phụ nữ, thì tôi tưởng như được nghe chim líu lo hót, đồng thời tôi tưởng không bao giờ có thể học được thứ tiếng đó.”[32] Nhưng đó chỉ là cảm tưởng đầu tiên. Sau 6 tháng học hỏi nhờ một thanh niên Việt Nam và nhất là nhờ Giáo sĩ Francesco de Pina, giáo sĩ đã có thể giao thiệp, giảng dạy bằng tiếng Việt.
 
Sai hai năm ở Đàng Trong, giáo sĩ lại được phải ra Đàng Ngoài nên Giáo sĩ có cơ hội so sánh cách phát âm ở hai miền. Từ năm 1630 đến 1640, giáo sĩ làm giáo sư thần học ở Áo Môn. Đây là thời gian thuận tiện cho giáo sĩ nghiên cứu thêm về chữ quốc ngữ. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng khi trở lại Đàng Trong năm 1649 để thay thế giáo sĩ Buzomi, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã khởi thảo các tác phẩm chữ Quốc ngữ. Tiếc rằng chúng ta chưa tìm ra tài liệu để hiểu biết về bảo thảo hay tiền thân của các tác phẩm in năm 1651.
 
2) Hệ thống mẫu tự phiên âm
 
Qua ba tác phẩm chữ quốc ngữ của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta một hệ thống mẫu tự, phiên âm gần như là hoàn toàn, không khác hệ thống thông dụng hiện nay bao nhiêu.
 
a) Về nguyên âm, Alexandre de Rhodes dùng nguyên âm đơn, nguyên âm kép và nguyên âm ba.
 
Nguyên âm đơn: a ă â e ê i o ô ơ u ơ.
 
Nguyên âm kép: ai ay ao au âu
 
                          eo êu
 
                          ia iê io iơ iu iư
 
                          oa oe oi ôi ơ
 
                          ua uâ ui uy uô uơ ưa ưi ươ ưu
 
Nguyên âm ba: iai iay iây
 
                        iao iau iây
 
                        ieo iêu
 
                        ioi iôi iơi
 
                        iơũ
 
                       (iua) iưa iơu iuô
 
                       Oai uay uây
 
                       uie uây
 
                       ươi ưởru.
 
Chúng ta nhận thấy trước Alexandre de Rhodes chưa có nguyên âm ba, và với Alexandre de Rhodes chỉ còn thiếu nguyên âm ba iua, nhưng lại thừa nguyên âm ba iơũ còn uyê thì viết uiê (nguiên = nguyên)
 
b) Về phụ âm: giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng những phụ âm đơn như: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, q, r, s, t, x, và những phụ âm kép như: bl, ch, gh, kh, ml, ng, ngh, nh, ph, th, tl.
 
Chúng ta nhận thấy thiếu phụ âm v và các phụ âm kép bl, ml, tl ngày nay không còn thông dụng nữa.
 
c) Về dấu chữ: Giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng đủ các dấu trên chữ I dấu mũ (^), dấu râu như các chữ ơ, ư dấu (‿) trên các chữ ă và chủ trương bỏ hẵn dấu hai chấm trên chữ i.
 
d) Về dấu giọng: giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng đủ các dấu sắc hỏi nặng ngã huyền.
 
3. Đối chiếu chữ quốc ngữ theo Giáo sĩ Alexandre de Rhodes với chữ quốc ngữ ngày nay.
 
Đối chiếu với chữ quốc ngữ ngày nay, chữ quốc ngữ theo Giáo sĩ Alexandre de Rhodes có một số điểm dị biệt
 
a) Theo Phép Giảng Tám Ngày
 
- ă không dùng đúng chỗ, khi không cần lại xuất hiện (như hăọc thay vì học, nhăọc thay vì nhọc) khi đáng dùng ă lại viết là a (như bàng thay vì băng, mạt hay vì mặt).
 
- ǒ (có dấu ngửa như ă) thường dùng trước nguyên âm như a hoặc u (như đoạn thì viết là đǒạn, địa ngục thì viết là địa ngǒục).
 
- ê thường dùng thay cho â (như lấy thì viết là lếy, đất thì bệt là đết).
 
- â thường thay cho ô (như muốn thì viết là muấn, nhường thì viết là nhưăng)
 
- dấu  ͂ (tilde) dùng để thay cho ng cuối một chữ (như cũng thì viết là cũ, ông thì viết là ôũ: tuy nhiên có nhiều chữ vẫn viết với ng như chẳng, chưng).
 
- ao thường thay cho o (trong aõ thay cho ong, lòng thì viết là laõ, đóng thì viết là đảõ, song thì viết là saõ).
 
- ou thường thay cho ô trong oũ thay cho ông (như sống thì viết là sóũ, đồng thì viết lã đòũ, không thì viết là khoũ).
 
- Chữ “Bêta” Hy Lạp (tạm ghi là bv theo Hoàng Xuân Hãn) dùng thay cho v (như vua thì viết là bvua, vào thì viết bvèao, vui vẻ thì viết là bvui bvẻ).
 
- C nhiều khi thay cho q (như quên thì viết là cuên, quyền thì viết là cuyền; tuy nhiên chữ q có lúc vẫn đúng như ngày nay: quan, quỉ).
 
- Bl dùng thay cho tr, gl hay l (như blời thay vì trời, giời, lời; blái thay vì trái, lái).
 
- ml thay vì nh hoặc l (như mle thay vì nhẽ hay lẽ; mlớ thay vì nhớn hay lớn).
 
- tl dùng thay vì tr (như tlước thay vì trước, tlâu thay vì trâu).
 
- i dùng thay vì y (như nguyên thì viết nguiên).
 
- Nhiều tiếng được phiên âm theo thổ âm như nhất, nhứt thì viết là nhít; nhân, nhơn thì viết là nhin; rất thì viết là rứt: gửi, gởi thì viết là gưởi; nhiêu thì viết là nhêu; vâng thì viết là bvưng.
 
b) Theo Tự điển Việt-Bồ-La
 
- ă vẫn thông dụng trong cuốn Tự diện như đọc thì viết là đăọc, móc thì viết là măóc, sách thì viết là sắch. Nhưng một vài nơi, cuốn tự điển đã phiên âm như ngày nay (như chữ ngọc, tự điển ghi: hãy coi chữ ngăọc, về chữ răọc – răọc, hãy coi chữ rọc - rọc).
 
- e không còn dùng nữa (chữ e có chữ ngửa như chữ ă) (như da ghi hãy coi dea, dài ghi hãy coi dàei).
 
- o vẫn còn được duy trì như (chữ o có chữ ngửa như chữ ă) hoa, khoa… Tuy nhiên có một vài sự thay đổi (như về chữ tục thì ghi hãy coi toục, ngục thì ghi hãy coi ngoục).
 
- ê thường được thay thế bằng chữ â trong rất nhiều chữ đầy thay đềy, đấy thay đếy, đây thay đêy…
 
- â đã được thay thế bằng ô như ruồi = ruầi, nuôi = nuâi và trâ cũng đã được thay thế bằng ươ (như phương = phưâng cường = cưầng, cưới = cuấi).
 
- Dấu  ͂ (tilde) vẫn còn thông dụng. Tuy nhiên ng đã thay thế dấu tilde trong nhiều chữ như về chữ rụng thì ghi hãy coi chữ rũ, xũ thì ghi hãy coi chữ xung.
 
- ao thì vẫn dùng tay cho o.
 
- ou vẫn dùng thay cho ô.
 
- Chữ Bêta Hy Lạp (tạm ghi là bv theo Hoàng Xuân Hãn) đã có sự thay đổi (như bvấn = vấn, = bvạt = vạt, bvơ = vơ…) Đó là những chữ có ghi ở mục bêta. Đến mục v hoặc u (trong cuốn tự điển thực ra không chữ v song chữ u vừa là chữ u thay cho v, chúng ta thấy nhiều chữ bắt đầu bằng phụ âm v).
 
- Nhiều chữ c đã thay đế bằng q như quên = cuên, quen = cuen, quiên = cuiên, quơn = cuơn, quăn = cưăn…).
 
- Bl vẫn còn dùng như blá (trá), blả (trả), blúc blắc (lúc lắc), blai (trai, glai, lai), blái (trải, giải).
 
- Ml đã được thay thế trong nhiều trường hợp theo cách phát âm ngày nay, như mlạt = nhạt (lạt), mlỡ = lỡ (nhỡ) mlầm = lầm, mlớn = lớn (nhớn).
 
Tl vẫn được dùng nhưng tr đã xuất hiện. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã chú: “Tla có người đọc là tra, nghĩa là đổi l thành r và trong những chữ tiếp sau đây cũng đều như vậy cả.”[33]
 
c) Theo Văn phạm Việt ngữ
 
- Chữ v như ngày nay chưa có. Tác giả nói người Việt Nam có hai chữ b và giải thích như sau: “Một chữ giống như chữ b của chúng ta (tức người Tây Phương) chẳng hạn như ba, tức con số 3, tuy vậy nó cũng không giống hẳn chữ b của chúng ta. Khi đọc chữ đó không được thở ra phải hít khí vào cũng giống như người muốn đọc chữ m, rồi sau mới phát hơn ra. Chữ b thứ hai đọc hầu giống như đọc chữ bêta Hy Lạp chẳng hạn như khi đọc tiếng bèao (vào). Thực ra nó cũng không giống hẳn chữ v của chúng ta vì khi đọc nó không nên hít mạnh lắm, mà chỉ cần mở môi ra như kiểu đọc của người Do Thái chứ không đọc bằng răng.”[34]
 
- Ngoài chữ l đọc như ngày nay, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes ghi nhận ở Đàng Ngoài “còn có chữ l đọc mềm, chen giữa các phục âm khác như blả (lả =  trả); có một miền đọc b ra t, thí dụ như tlả (trả); người ta cũng còn dùng l sau m, thì dụ mlẽ (lẽ), đôi khi dùng l sau p, thí dụ plăn (lăn) nhưng cũng có nơi dùng làn thay vì plàn. Còn việc dùng l sau t thì rất thông dụng, thí dụ tla (tra), tle (tre)”[35].
 
4. Nhận định về lối phiên âm và chữ viết Quốc ngữ của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes
 
Khảo sát chung về công trình ngữ học của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta có thể đưa ra những nhận định sau đây:
 
Nhận định thứ nhất là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes hòa hai khuynh hướng bảo tồn và canh tân trong tinh thần tôn trọng đặc tính Việt Ngữ.
 
Là người tiếp tục công trình phiên âm, giáo sĩ tôn trọng và bảo tồn những thói quen hợp lý về cách phiên âm. Trong khi bàn về lý do chọn phụ âm ph thay vì f, giáo sĩ tuyên bố theo thói quen và giải thích ph đúng hơn f: “F hay đúng hơn ph, vì khi đọc nó không cần phải tách biệt hai môi như đọc chữ f của chúng ta. Thực ra khi đọc chữ đó, môi chỉ giề ra rất ít và thở rất nhẹ: ở trong tự điển, chúng tôi không dùng chữ f mà sẽ chỉ dùng chữ ph vì các sách đã chép đều quen dùng như vậy”[36]. Một nơi khác, khi bàn về những vần ghép gia, giu, giơ, giư đọc như tiếng Ý (theo giáo sĩ, chứ thật ra không thể đọc như tiếng Ý được), giáo sĩ viết: “Như thể vừa tiện lợi, vừa hợp với thói quen đã dùng trong các sách”[37].
 
Đành rằng cần phải tôn trọng những thói quen nhưng sự canh tân cũng có những lý do chánh đáng, cho nên giáo sĩ đã bỏ thói quen dùng hai chấm trên chữ y, trên chữ a hay chữ o, trong các vần au, ao để tránh những phiền phức vô lý. Nếu chúng ta so sánh cách phiên âm của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes với cách phiên âm đã có từ đời trước, chúng ta sẽ nhận thấy những cải cách hợp lý như thêm nguyên âm, thêm phụ âm, thêm dấu chữ và dấu giọng.
 
Nhận định thứ hai là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes tôn trọng cách phát âm của thời đại và của địa phương trong khi vẫn ý thức về sự thống nhất của Việt ngữ trong toàn quốc.
 
- Lếy (lấy) đết (đất) là ghi theo giọng đọc đặc biệt của vùng Nam Ngãi thuộc Đàng Trong còn tlâu (trâu) tlộm (trộm) là viết theo lối phiên âm của một đôi miền ở Đàng Ngoài.
 
- Bvua (vua), bvui vẻ (vui vẻ) ghi với bêta Hy Lạp, mlạt (nhạt) mlỡ (lỡ) là viết theo cách đọc thông dụng của thời đại.
 
Về mặt lịch sử địa lý ngôn ngữ học, các sách của giáo sĩ Alexandre de Rhodes là chứng tích giúp ích cho rất nhiều nhà khảo cổ.
 
Nhận định thứ ba là giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã làm việc với tinh thần khách quan cần thiết của một nhà ngôn ngữ học. Nếu trong Phép giảng tám ngày, giáo sĩ phải viết theo một lối phiên âm nhứt định, trong Văn phạm Việt ngữ và Tự điển Việt Bồ La giáo sĩ cẩn thận giải thích các lối phát âm và đối chiếu những lỗi viết khác nhau.
 
Nhận định thứ tư là giáo sĩ Alexandre de Rhodes, với khả năng đa ngữ, đã biết vận dụng ký hiệu của nhiều ngôn ngữ để phiên âm Việt ngữ một cách tinh tưởng xác đáng.
 
Về dấu giọng. các dấu sắc huyền ngã lấy trong tiếng Hy Lạp dấu nặng lấy ở chữ iota dưới, dấu hỏi lấy trong chấm hỏi La ngữ.
 
Các âm vận cũng được ghi theo ký hiệu thích ứng nhất thí dụ như:
 
Q đọc như tiếng Latinh trong qua, quỉ.
 
A thì đọc như tiếng Bồ hoặc Sc của tiếng Ý.
 
R không đọc như tiếng Bồ song đơc như tiếng Ý.
 
Ph đọc như chữ phi trong tiếng Hylạp.
 
Ng đọc như ngăin của tiếng Do Thái.
 
Nguyễn Khắc Xuyên đã nhận xét rất tinh tường về sự phiên âm Việt ngữ của Alexandre de Rhodes: “Tác giả không trói buộc mình vào một hệ thống nào riêng biệt, một ngôn ngữ nào đọc tôn, trái lại căn cứ vào cách phát âm đặc biệt của Việt ngữ, ngài đã tìm trong hết các ngôn ngữ cùa ngài đã biết ngõ hầu ghi cho xác đàng. Nếu tiếng này, không phù hợp, thì ngài dùng đến tiếng kia, nếu âm vận ngôn ngữ này xem ra phiền toái thì ngài không ngần ngại cầu cứu đến ngôn ngữ khác, mặc dầu ngôn ngữ ấy không phải ngôn ngữ riêng của ngài, tiếng mẹ đẻ của ngài. Quả thật, con người quốc tế, tinh thần quốc tế của ngài đã giúp ngài rất nhiều và vì thế công cuộc đã thành tựu và (…) sẽ thành tựu lâu bền”[38]
 
II. GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES VÀ SỰ HÌNH THÀNH NGÔN NGỮ CÔNG GIÁO VIỆT NAM[39]
 
Qua cuốn Văn phạm Việt ngữ, chúng ta thấy Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã thấu triệt những nguyên tắc căn bản của cú pháp Việt Nam. Trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày, giáo sĩ đã ứng dụng những nguyên tắc ấy vào việc sáng tác và nhờ đó, ngôn ngữ công giáo Việt Nam được xây dụng trên căn bản ngữ học và thần học vững chắc.
 
Chúng ta sẽ lần lượt nhận định về giá trị ngữ học, văn học, và thần học của cuốn Phép Giảng Tám Ngày.
 
1) Giá trị ngữ học
 
Ngôn ngữ Công giáo trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày chứng tỏ tác giả vừa tôn trọng vừa cải tiếng những phương thức sáng chế của người đương thời.
 
Đặc điểm thứ nhất là tác giả chú trọng đến sự diễn đạt trọn vẹn và đầy đủ những yếu tính của đạo Công giáo đến độ nhiều khi phải hy sinh tính chất nhã thuần hay để làm nổi bật nội dung sâu sắc. Tác giả đã dùng lối phiên âm và lối trực dụng từ ngữ La tinh vì chưa tìm ra từ ngữ Việt ngữ tương đương. Thập giá còn ghi là cây Crux, bí tích là sacramento, Chúa Thánh Thần là Spirito santo, kính mừng là ave, ơn nghĩa Chúa là gratia… Về những danh từ riêng, phương pháp này có thể chấp nhận, nhưng về những danh từ chung, phương thức nào tạo nên những từ ngữ lai căn khó nghe.
 
Đặc điểm thứ hai là tác giả sáng tạo được một số danh từ mới, vừa có tính cách Việt Nam, vừa diễn tả chính xác nội dung của danh từ La tinh tương đương. Đạo công giáo được mệnh danh là đạo thánh đức Chúa Trời. Về sứ mạng của đức Chúa Con, tác giả dùng các động từ giản dị mà thâm thúy như chuộc tội, ra đời, cứu thế. Về Đức Mẹ, tác giả ca tụng là Đức Chúa Bà, Đức Mẹ đồng thân. Rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời.
 
Đặc điểm thứ ba là tác giả đã rửa tội một số danh từ tôn giáo sẵn có của dân tộc và giải thích theo tin lý Công giáo Thiên đàng là thế nào? Tác giả trả lời: Ai thờ Đức Chúa Trời cho nên, thì được lên Thiên đàng cùng Đức Chúa Trời “(Ngày thứ nhất) Về địa ngục, tác giả cho rằng thế gian gọi là âm phủ thì phải, vì chưng là nơi tối tăm mù mịt. (Ngày thứ nhất) tác giả phân biệt giác hồn, sinh hồn, linh hồn, và dùng linh hồn theo nghĩa Công giáo. Ăn chay, thờ phương, lỗi nghĩa, phạm đạo là những động từ thông dụng nhưng hàm súc ý nghĩa Công giáo nhờ văn mạch.
 
2) Giá trị văn học
 
Xét về phương diện thuần túy văn học, chúng ta nhận thấy nghệ thuật đặc biệt của giáo sĩ Alexandre de Rhodes.
 
Đầu tiên tác giả dụng ý tạo nên một lối văn phổ thông nhưng không kém phần sâu sắc.
 
Để mọi giới có thể lĩnh hội được chân lý mặc khải, tác giả không dùng những lập luận khó hiểu, những kiểu nói cầu kỳ của  những thiên đại luận. Tự nhiên như lúc đàm đạo, thân mật như nói chuyện tâm tình, tác giả đã nhắm mục địch đánh động người nghe hơn là phô trương sở học. Lần đầu tiên, văn học Việt Nam vang lên những giáo luận thâm trầm nhưng giản dị dễ hiểu và khuyên mời đi sâu vào sự tìm hiểu chân lý.
 
Về kỹ thuật hành văn, tác giả vận dụng những phương tiện bút pháp làm cho tác phẩm mang một sắc thái riêng biệt.
 
Lối giải thích của tác giả hấp dẫn, đi từ những hiểu biết sẵn có của người đọc để dẫn đưa đến những giáo điều. Để các nhà nho hiểu chữ Thiên theo nghĩa giáo lý công giáo, tác giả dùng tối chiết tự: “Chữ thiên là trời, giải ra thì có hai chữ, một là chữ nhất, hai là chữ đại, nghĩa là một cả. Song le ai là một cả, ắt là Đức Chúa trời sinh ra trời đất muôn vật, thật là một cả: cả và loài người ta thì phải thờ kính đấy, ấy là lẽ phải.” (Ngày thứ nhất). Danh ngôn Á Đông thích đáng cũng được viện dẫn đề biện minh cho lập luận, như sinh ký. Tử quy (Ngày thứ nhất).
 
Lối cụ thể hóa làm cho vần nghị luận đỡ phần khô khan “làm cho người đọc không hề cảm thấy mình đang đọc một quyển sách đạo” như lời nhận xét của Trương Bửu Lâm[40]. Những hình ảnh và ví dụ làm cho những ý niệm trừu tượng, khó hiểu được lãnh hội dễ dàng hơn. Mười điều răn, theo tác giả là mười bậc thang lên thiên đàng (ngày thứ tám). Về mối tương quan giữa hồn và xác, tác giả đưa ra tương quan chủ tớ: “Linh hồn như chủ nhà, xác như tôi tớ hay đầy tớ, nó thì phải phục linh hồn như chủ, vì chưng đầy tớ cùng tôi tớ làm chủ nhà, hay chủ nhà làm tôi tớ thì lộn lạo cũng chẳng phải lẽ.” (Ngày thứ nhất).
 
Sử gia viết về văn hóa Việt Nam còn có thể tìm thấy trong cuốn Phép giảng tám ngày những tài liệu lịch sử về ngôn ngữ, văn học, phong tục, tổ chức xã hội Việt Nam. Tác phẩm này, là một di tích lịch sử về trình độ tiến hóa của văn xuôi quốc âm. Đành rằng câu văn đã mang cá tính tác giả và ảnh hưởng tinh thần phân tích Tây phương với một lối phân cú rõ ràng, nhưng tác giả đã tôn trọng những đặc điểm cố hữu của cú pháp Việt Nam. Ngoài ra, tuy không chủ tâm viết sử, nhưng tác giả vẫn có dịp phác họa một đôi nét về xã hội Việt Nam thế kỷ XVII. Về tổ chức chính trị, và tế tự trong nước, tác giả viết: “Đầu năm vua chúa Annam làm phép cả, có đại thần cả và nước và quân quốc đến cùng thiên hạ đi cùng, ra giao mà tế thượng đế. Đến khi vua chúa đã tế thượng đế đoạn, thì đại thần cùng kẻ cả trong nước, cùng cả và thiên hạ thì mới lạy vua chúa trước mặt dân. Thôi đoạn ai nấy về nhà mà lạy vua chúa trước mặt dân. Thôi đoạn ai nấy về nhà mà lạy cha mẹ cùng kẻ bề trên mình ông bà ông vãi” (Ngày thứ nhất, trang 21, 22). Về tục đốt vàng mã, tác giả nói đến những người “dùng giấy làm nhà, cùng áo, tiền vàng bạc và các kỳ sự vẽ, mà cúng cha mẹ” (Ngày thứ bốn, trang 121). Chúng ta còn có thể sưu tầm trong cuốn Phép giảng tám ngày nhiều nét chấm phá độc đáo về trình độ sinh hoạt ở nước ta.
 
3) Giá trị thần học
 
Nhiều học giả đã phát huy giá trị thần học của cuốn Phép Giảng Tám Ngày[41]. Chúng ta có thể đồng ý với Nguyễn Khắc Xuyên nhận định rằng tác phẩm của giáo sĩ Alexandre de Rhodes “không phải là một cuốn giáo lý đại cương, nhưng là sách giáo lý trình bày trong màu sắc minh giáo, thích hợp cho màu dân tộc, một văn hóa riêng biệt là xã hội Việt Nam vào thế kỷ XVII” (Nguyễn Khắc Xuyên, Tác phẩm Quốc ngữ Đầu tiên: Phép Giảng Tám Ngày, bđd, LVII [42]. Và như André Mariller đã xác nhận, “người ta có thể nhận thấy trong cuốn Phép giảng tám ngày của giáo sĩ Alexandre de Rhodes một chứng tích của phương pháp giảng dạy giáo lý của các Cha Dòng Tên ở Á Đông vào thế kỷ XVI-XVII” (André Mariller, Le Catéchisme du Père, Alexanhdre de Rhodes, bđd, trang XLII).
 
Thật ra, nếu chúng ta so sánh với những tác phẩm đông thời ở Trung Hoa và Nhật Bản, tác phẩm của Alexandre de Rhodes có những đặc điểm rõ rệt.
 
Chính tác giả đã trình bày phương pháp giảng dạy giáo lý của tác giả trong nhiều tác phẩm khác.
 
Từ khía cạnh hữu lý của tôn giáo, tác giả đưa các tân tòng vào các mầu nhiệm của Đạo Công giáo.
 
“Chư tăng rất hài lòng vì thấy tôi làm cho họ nhận biết sự hòa hợp giữa tôn giáo và lý trí, và nhất là họ khen ngợi thập điều của Chúa. Họ nhận rằng không còn có thể nói gì hợp lý hơn nữa, không còn gì đáng cho một Chúa tể ban bố ra hơn nữa.”
 
“Phương pháp tôi đem trình bày với họ là trước hết tôi bàn về linh hồn bất tử và sự sống đời sau, từ đó tôi làm chứng có Thượng Đế, rồi sự quan phòng của ngài, và dần dà tôi đưa họ tới những mầu nhiệm khó hơn.”
 
“Kinh nghiệm cho hay rằng lối trình bày giáo lý cho người ngoài Kitô giáo như thể rất bổ ích. Phương pháp đó tôi đã giải thích suốt trong sách giáo lý mà tôi chia làm tám ngày trong đó tôi cố gắng bản giải các chân lý chính phải dạy cho người ngoại quốc.” (Alexandre de Rhodes, Voyages et Mission trang 96, Nguyễn Khắc Xuyên trích dịch, Đại học số 19, trang 45-46 ).
 
Nguyễn Khắc Xuyên có công giới thiệu một đoạn văn khác của chính Alexandre de Rhodes mà chúng ta có thể xem là bài tựa của cuốn Phép Giảng Tám Ngày.
 
“Mặc dầu vẫn còn có những thầy giảng Phúc Âm cho người ngoài ngoài Kitô giáo chủ trương rằng trước hết hãy hủy diệt những sai lầm của ngoại giáo và làm cho những kẻ tin theo là thuyết phải chối bỏ, trước khi xây dựng và giảng dạy những điểm và chân lý của đạo Kitô, chiếu theo thứ tự mà Thiên Chúa đã giao cho vị tiên tri rằng: “Ta đã đặt ngươi để phá hủy và chối bỏ, để kiến thiết và vun trồng”. Còn về mầu nhiệm vô cùng cao cả Ba Ngôi Thiên Chúa, thì chỉ bàn giải cho chầu nhưng một khi học đã sẵn sàng chịu phép rửa tội, để họ không bị rối trí bởi hồ nghi về mầu nhiệm rất cao cả và khôn tả đó.”
 
- “Nhưng với kinh nghiệm tôi đã thu lượm được thì phải có một lập trường trung dung, tìm một phương pháp giáo huấn thích hợp cho xứ này.”
 
“Đó là đừng phản đối những sai lạc của các giáo phái miền Bắc, trước khi chưa đặt một vài nguyên tắc mà ánh sáng tự nhiên của lý trí có thể nhận biết được, như việc tạo thành thiên địa, cứu cánh mà đấng Tối cao, nguyên lý của thụ tạo, đã đặt định và quy hướng loài thụ sinh có lý trí, có nghĩa vụ thụ sinh phải công nhận ngài, phụng sự ngài: như vậy là đặt để trong tâm hồn họ một nền tảng vững chải, trên đó các tin tưởng khác sẽ được dựa vào. Như vậy cũng là tránh được sự họ phật ý ngay buổi đầu, khi thoạt kỳ thủy, họ nghe chỉ trích và chế nhạo những sùng kính của họ mặc dầu là sai lạc, cả đến những ý kiến hợp và nông cạn của họ: đó là điều vẫn xảy ra. Cứ theo điều tôi đã có thể quan sát, thì tôi càng thành công nếu tôi ấn vào lòng họ một ít những tâm tình đạo hạnh và tình yêu tự nhiên đối với Đấng Hoá Công và nguyên lý đầu tiên của hiện hữu họ.
 
“Rồi khi nói đến Lụt Hồng Thuỷ và lộn xộn ngôn ngữ thì bấy giờ mới cho họ hiểu vì Chúa mà họ phải kính sợ và tôn thờ, sau đó mới bài bác ngẫu tượng giáo, sai lạc mà chính quỉ ma cũng chưa có thể đem vào thế gian trước nạn Hồng Thuỷ.”
 
“Rồi tôi rất đồng ý với những vị khác rằng không nên trình bày cho lương dân mà ta muốn chinh phục những mầu nhiệm về Ba Ngôi Cực Thánh, về nhập thể và về cuộc Thương Khó Con Thiên Chúa, và gieo hạt giống các chân lý trọng đại trong tâm hồn họ trước khi đã nhổ các sai lầm và dị đoan ngẫu tượng khác.”[43]
 
Theo phương pháp trên đây, tác giả đã lợi dụng những giá trị văn hóa tôn giáo tích cự của dân tộc Việt Nam để trình bày một giáo lý mới. Một mặt khác, tác giả tuân theo lề lối giảng đạo cổ truyền của giáo hội là kêu gọi vận dụng lý trí để suy luận nhưng vẫn đề cao sự phó thác trong nguyện cầu khiêm nhường, trình bày giáo lý nhưng vẫn thúc đẩy giáo hữu tìm hiểu.
 
Sau cùng chúng ta cũng nên xét thái độ của tác giả đối với các tín ngưỡng tôn giáo khác ở Việt Nam. Tác giả phân tích tinh vi việc thờ kính thần linh, công nhận những giá trị tích cực của đạo Khổng, thẳng thắn chỉ trích những phong tục dị đoan. Về Phật giáo và Lão giáo, tác giả tỏ thái độ nghiêm khắc, một đôi khi có nhiều phán đoán cực đoan.
 
Về điểm sau này, Nguyễn Khắc Xuyên nhận xét: “Những phán đoán của Đắc Lộ về các tôn giáo, một phần đã chịu ảnh hưởng của một khoa thần học bưng bít thế kỷ XVI - XVII. Theo giáo lý thiếu sót này, (trái với học thuyết cổ truyền, tỉ như của các giáo phụ Hy Lạp thể kỷ III - IV) thì ngoài Kitô giáo, chỉ có sai lầm về việc của tà ma quỷ quái trong hết các tôn giáo khác. Chúng tôi không bảo phán đoán này sai lầm song không hoàn toàn đúng. Đây là một phán đoán một chiều, đi xa cổ truyền Phúc Âm, các tông đồ và các giáo phụ. Bởi vậy, có thể nói được rằng các nhà truyền giáo thời xưa chưa được sửa soạn đầy đủ để tìm hiểu, cảm thông với các tôn giáo khác.”
 
“Ngày nay, người Kitô giáo có một thái độ khác với thái độ có thể nói được là thiếu sót của các nhà truyền giáo thế kỷ XVI – XVII. Các luận điệu quá gay gắt và “độc đoán” không còn thích hợp và không được công nhận. Đó là điều phải lẽ.”[44]
 
Những người ngoài công giáo có thể chỉ trích một vài phán đoán của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes nhưng thiết tưởng cần phải đặt cuốn “Phép giảng tám ngày” trong hoàn cảnh lịch sử, trong khuôn khổ của các khoa thần học và truyền giáo thời đại của tác giả để tránh mọi sự hiểu lầm có thể có trong hiện tại.
 
Trong văn học chữ quốc ngữ nói chung và văn học công giáo Việt Nam nói riêng, giáo sĩ Alexandre de Rhodes giữ địa vị của một nhà khai sáng tiền phong. Trong một viễn tượng lịch sử, chúng ta đã nhận thấy giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người đã hoàn tất một sự nghiệp chung của nhiều thế hệ thừa sai. Nhưng trong công việc hoàn tất ấy, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã dự phần đóng góp quan trọng. Lịch sử văn học Việt Nam trân trọng nhắc nhở đến giáo sĩ Alexandre de Rhodes không chỉ vì các tác phẩm của giáo sĩ được may mắn ấn loát và lưu truyền, mà chính còn là vì đã thể hiện những giá trị hiển nhiên, gây nên một phong trào văn học mới ở nước ta.
 
CHƯƠNG III

NHẬN ĐỊNH VÀ MỘT SỐ TÁC GIẢ VĂN HỌC KITÔ GIÁO
QUA DÒNG THỜI GIAN TRÊN 200 NĂM

 
Chúng tôi rất tâm đắc các nội dung và nhận định vừa trình bày trên, đặc biệt qua tài liệu “Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên”, Nguyễn Khắc Xuyên - Phạm Đình Khiêm. Tái bản trọn cuốn Phép Giảng Tám Ngày của Alexandre de Rhodes, do André Marillier sao lục, chú thích và lập bảng tham chiếu.  Tinh –Việt Văn Đoàn, Ban Sử học: 232/19 Hiền Vương, Saigon `961 (Kỷ Niệm Tam Bách Chu Niên) và của tác giả VÕ LONG TÊ, “Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam”, cuốn 1, NXB Tư Duy, Sài Gòn 1965, trang 222- 258.
 
A. Nhận định
 
Vì thời kỳ nghiên cứu của các tác giả trên còn bị hạn chế về tư liệu nghiên cứu, do đó chúng tôi nghĩ cần bổ sung vào phần trình bày của chúng tôi một vài nhận định cá nhân, nhất là ghi thêm một số bài nghiên cứu của các tham luận vừa qua được tổ chức  “Hội Thảo Bình Định Bình Định Với Chữ Quốc Ngữ” tại Tp. Qui-nhơn vào ngày 12-13/01/2016.
 
Một vài nhận định

 
1. Tự điển Việt-Bồ-La được hình thành suốt một quá trình dài lâu. Các vị giáo sĩ Dòng Tên vì hoàn cảnh đặc biệt không thể truyền giáo tại nước Nhật, nên chuyển địa bàn truyền giáo đến xứ Đàng Trong đất Đại Việt (Việt Nam ngày nay) vào năm 1615 và những năm kế tiếp. Các ngài mang sứ mệnh truyền giáo, bằng hội nhập văn hoá bản địa, học tiếng và phiên âm tiếng nói địa phương bằng mẫu tự Latinh. Do đó, bất cứ đi đến đâu, các ngài canh cánh bên lòng về sứ mạng cao cả đó và thực hiện phương thức truyền giáo. Dù cư trú tạm thời hay dài lâu như ở Hội An, Thanh Chiêm, Nước Mặn hoặc các nơi khác thuộc Đàng Trong hay Đàng Ngoài, các ngài vẫn thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng tiếng Việt Nam qua lối viết chữ quốc ngữ sao cho mỗi ngày hiệu năng hơn.
 
2. Đối tượng được các thừa sai loan báo Tin Mừng là con người, bất kể họ là ai, thuộc thành phần nào trong xã hội Việt Nam. Cụ thể người Việt Nam, lớp sĩ phu, sư sãi, đặc biệt là thường dân, những con người nghèo : nghèo về tiền của, nghèo về địa vị xã hội, nghèo về đời sống tâm linh… Do đó, Tự điển Việt-Bồ-La qui nạp rất nhiều từ mà hằng ngày được người dân sử dụng. Ngữ pháp được các thừa sai biên soạn lấy mô thức ngữ pháp của Âu châu thịnh hành lúc bấy giờ bằng phân tích tiếng nói, cách nói của người dân, giữ lại những đặc thù thuộc nền văn hóa bản địa và thêm vào đó những khía cạnh mới cho rõ ràng theo một điển ngữ để việc dạy giáo lý của các thừa sai, các linh mục bản xứ và của các thầy giảng cho chuẩn xác.
 
Nhờ Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp và Phép Giảng Tám Ngày một nền Văn học Tôn giáo Công giáo bắt đầu, được tiếp nối và kiện toàn cho phong phú trong đời sống giảng dạy như trong các Bí tích, Thánh lễ, kinh sách (kinh mục lục), Giáo lý dự tòng, giáo lý hôn nhân, giới trẻ. Quyển “Kinh sách” (sách mục lục) là quyển văn học nhà đạo lâu đời (sau Phép Giảng Tám Ngày) và tồn tại đến ngày nay đã dùng khá nhiều từ ngữ trong Tự điển Viêt-Bồ-La[45]… Có thể nói trong suốt hơn 200 năm bắt đầu các ấn phẩn đó ra đời (1651), MỘT NỀN VĂN HỌC CÔNG GIÁO  BẮT ĐẦU VÀ LỚN MẠNH.
 
3. Theo sự nghiên cứu của André Marillier, “bản văn La ngữ của cuốn Phép giảng tám ngày không phải là quá đơn giản sơ lược, cũng không phải là theo cú pháp cổ điển: nhiều lúc chỉ là phiên dịch thẳng từ câu văn Việt ngữ”[46].
 
Nhưng qua việc phân tích ngữ pháp, cụ thể là cấu trúc “câu” (mệnh đề) của quyển sách Phép Giảng Tám Ngày, theo thiển ý chúng tôi thấy rất nhiều đoạn tương xứng song hành giữa câu Latinh và tiếng Việt nam như:
 
(câu a)[47]: Ta cầu cùng đức Chúa trời giúp sức cho ta biết tỏ tường đạo Chúa là dường nào. (câu a): Suppliciter petamus ab optimo Coeli Domino ut diuvet nos, ad hoc ut intelligamus probe legem Domini.
 
Nếu so sánh nhiều đoạn trong Phép Giảng Tám Ngày, có những cấu trúc  song song giữa 2 bản văn Latinh và Việt Nam, nên chúng tôi nghĩ bản văn tiếng Latinh là chuẩn mục có trước để bản văn tiếng Việt hiện hành được dịch hoặc sao chép lại hay ít nhất có sự đồng thuận tạo ra hai bản văn La và Việt sau khi trao đổi giữa các thừa sai với nhóm nho sĩ, sư sãi đã tòng giáo, giáo lý viên về nội dung và câu văn cho tương hợp. Điều này cũng đúng cho các bản dịch ra các văn bản tiếng khác nhau, như nhận định sau đây: “Theo hiện tình nghiên cứu, chúng ta không biết ấn bản đầu tiên gồm bao nhiêu cuốn cũng như không rõ sách có được tái bản hay không. Có điều chắc chắn là cuốn phép giảng tám ngày được sao chép rất nhiều hoặc bằng chữ quốc ngữ hoặc bằng chữ nôm, và được phiên dịch ra tiếng Thái Lan và tiếng Pháp.”[48]
 
Nhận xét về mặt thần học trong “Phép Giảng Tám Ngày” đã được ông Võ Long Tê nhận xét trong tài liệu nghiên cứu của ông [49] như chúng tôi vừa trình bày trên. Ở đây chúng tôi thêm một ý dựa trên chứng lý song song giữa 2 văn bản La - Việt và có một cuộc trao đổi về nội dung thì một phần về văn học địa phương cũng như tôn giáo có tham gia tích cực của giới nho sĩ, các tân tòng, cộng đoàn tín hữu nói chung trong ý hướng thích nghi văn hóa thời đại trọng nho, coi nhẹ Phật giáo. Nội dung của “Phép Giảng Tám Ngày” đề cao vai trò của vua là thiên tử, phép nước. Nhưng để giải thích trong nhãn quan nho giáo, “Phép Giảng Tám Ngày”  đã đề cập quan niệm TAM PHỤ và nhiều quan điểm khác nữa. Thật thế, lối sống thế tục trong một xã hội thời đại đều ảnh hưởng đến đời sống tâm linh tôn giáo. Nên, vào những thế kỷ XVII-XVIII, đạo Phật có tinh thần DUNG HỢP các thực hành biểu lộ lòng tin của người dân, đôi khi pha tạp những nghi thức che mù đạo pháp tinh ròng truyền thống Nhà Phật. Điều này cũng cần nghiên cứu cho mọi tôn giáo kể cả Ki-tô giáo khi tiếp nhận yếu tố thế tục trong một thời đại nào đó.
 
B. Những người Việt Nam đã giúp sức cho các giáo sĩ Dòng Tên biên soạn chữ Quốc ngữ và tiếp tục sự nghiệp hình thành nền văn học Công giáo
 
1. “Trong một số tác phẩm được xuất bản từ những năm 1960-1970 của mình, các tác giả Đỗ Quang Chính, Võ Long Tê đều đã đề cập đến sự đóng góp của người Việt cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Đó là những nho sĩ, những sư sãi, những tân tòng - người mới tòng đạo (Công giáo), mà đặc biệt là những tân tòng trở thành thầy giảng (đạo). Nhưng tiếc rằng đó đều là những đóng góp lặng thầm, chìm khuất, ít được các giáo sĩ thời đó nêu danh tính hay ghi lại cụ thể, ngoại trừ  những ghi chép của các giáo sĩ F.de Pina, Đắc Lộ, C. Borri về công lao của người Việt trong việc bày vẽ cho họ học tiếng bản xứ. “Các thầy giảng Igesico Văn Tín, Bentô Thiện với những tác phẩm Quốc ngữ xuất sắc được lưu lại từ năm 1659, đương nhiên họ đã cùng với các vị giáo sĩ ở cư sở của mình cùng nhau miệt mài luyện tập chữ Quốc ngữ cũng như học hỏi ngôn ngữ của nhau.”[50]
 
2. Ngoài ra, có nhiều tác phẩm công giáo được phổ biến còn lưu lại đến ngày hôm nay, trong suốt mấy trăm năm đó được các nhà nghiên cứu đã trình bày trong cuộc Hội thảo Khoa học tại Qui Nhơn vừa qua, như bài tham luận “Lịch sử Nghiên cứu về Sự ra đời của chữ Quốc ngữ” của  Đặng Thị Phượng, Viện tự điển học và Bách khoa thư Việt Nam, trong phần đề cập “Giai đoạn phát triển và hoàn thiện chữ Quốc ngữ”, có đoạn viết:
 
“Sự phát triển của chữ quốc ngữ có thể được gắn với các sự kiện sau:
 
Thứ nhất, giai đoạn này có thể tính từ thời điểm thực hiện việc biên soạn và xuất bản hai cuốn sách: Từ điển Việt Bồ La và Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes (năm 1636). Sự kiện xuất bản hai cuốn sách này, là tiếng nói khẳng định bằng văn bản sự có mặt của tiếng Việt ra thế giới.
 
Thứ hai, tám năm sau đã xuất hiện những bản viết tay bằng chữ Quốc ngữ hai người Việt là Igiesico Văn Tín và Bento Thiện. Đáng chú ý hơn cả là Tập Lịch sử nước Annam của Bento Thiện.
 
Thứ ba, sự phát triển của chữ quốc ngữ gắn liền với những tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ như: Truyện Tiên du la, Sấm truyền ca, Phi năng thi tập của Phillippe Phan Văn Minh, tập thơ bằng chữ quốc ngữ, có một số bài thơ tố cáo người Pháp lợi dụng đạo công giáo vào mục tiêu chính trị xâm chiếm Việt Nam; tác phẩm Đại Nam Việt Quốc triều sử ký của tác giả Tân Định 1879, đây là cuốn sử viết theo lối Tây phương; Văn và Tuồng  gồm nhiều bài tuồng.
 
Truyện Tiên du la - gồm 12 cuốn với gần 500 tích truyện kể về 500 danh nhân Công giáo trên thế giới qua mấy ngàn năm lịch sử, cùng với quá trình hoàn thiện biên soạn cuốn sách thì tiếng Việt cũng đã có một bước phát triển mới.
 
Sấm truyền ca là tác phẩm phỏng dịch 5 tập đầu tiên của bộ Thánh Kinh Cựu ước của Thầy Cả Lữ Y Đoan thế kỷ XVII (viết năm 1670). Sấm truyền ca lưu truyền đến ngày nay đã qua nhiều dị bản, nhưng có thể khẳng định: Tác phẩm Sấm truyền ca đã lĩnh hội nội dung và tinh thần bản Thánh Kinh Cựu Ước và truyền đạt lại bằng ngôn ngữ Việt thế kỷ XVII (chữ Quốc ngữ) cô đọng, sáng tạo. Sấm truyền ca không những giữ được nội dung và tinh thần của tác giả mà còn thể hiện được văn hoá Việt, hồn Việt vào bản dịch.
 
Thứ tư, khi chúng tôi tiến hành tìm hiểu cuốn sách Về sách báo của người công giáo (thế kỷ XVII-XIX) của Nguyễn Văn Trung thấy những vấn đề nổi bật.
 
3/ Bài nghiên cứu của Thanh Lãng về lịch sử tiếng Việt cho rằng Tiếng Việt đã được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày của người dân thường từ cách đây 350 năm (khoảng đầu thế kỷ XVII), tiếng Việt được dùng để ghi trong các sách kinh đọc tại nhà thờ và tiếng Việt là thứ tiếng mà người Việt lưu vong tại các nước Miên, Lào, Thái sử dụng để nói hàng ngày (những người Việt lưu vong sang Thái Lan vẫn dùng các quyển kinh in bằng tiếng Việt để đọc hàng ngày, do linh mục người Việt dạy). Lúc đầu tiếng Việt có số lượng từ rất ít, chỉ là những từ rất đơn giản, nhưng từ những vốn từ có hạn đó người dân đã vận dụng “quy luật phú bẩm tự nhiên để sáng tạo thêm những số lượng từ ngữ mới cần thiết cho sinh hoạt trao đổi, nhất là khi con người phải tiếp cận với các khoa học mới.”[51]
 
Nhiều ý kiến đều cho rằng tờ báo Gia Định sử dụng chữ quốc ngữ đầu tiên.[52]
 
4/ Philíphê Bỉnh tiếp nối nền văn học nhà đạo trong nhiều lĩnh vực.[53]
 
Philíphê Bỉnh sinh năm 1759, quê Hải Dương, thụ phong linh mục năm 1793. Ông viết và sao chép nhiều sách vở được 20 bộ khác nhau, trong đó có những cuốn rất có giá trị về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, nhân chủng, văn học, ngôn ngữ, tiêu biểu như:
 
1. Quyển nhật trình kim thư khất kinh Chúa giáo (1817)
 
2. Truyện nhật trình ou Fenad Mendes Pinto (1817)
 
3. Truyện Annam Đàng Ngoài (1822)
 
4. Truyện Annam Đàng Trong (1822)
 
5. Sách sổ sang ghi chép các việc (1822)
 
Ngoài ra trong bộ sách của Philiphê Bỉnh còn có 4 bộ tự vị:
 
- Một bộ có vẻ là biên soạn lại bộ tự đển của giáo sĩ Đờ - Rốt, có bổ sung và sửa chữa.
 
- Một bộ là mô phỏng cuốn từ điển của Đờ - Rốt, nhưng được sắp xếp theo ý riêng của Philíphê Bỉnh, không giống với từ đển của Đờ - Rốt và không có phần Latinh.
 
- Bộ thứ ba và bốn, một cuốn Bồ - Việt, một cuốn Việt - Bồ. Cả hai bộ này cách xếp đặt khác cách xếp đặt của hai cuốn trên. Theo các nhà nghiên cứu thì đây là hai cuốn từ điển có sớm hơn cả tự điển của Alexandre - Rhodes biên soạn vào năm 1651, của Pigneau de Béhaine và của Taberd”.
 
Vài nét về cuốn “Sách sổ sang ghi chép các việc”
 
“Là một tập Hồi ký, đúng hơn là một tập nhật ký - Sách sổ sang ghi chép các việc đã được viết vào thế kỷ XVIII và năm 1822 là năm hoàn thành chứ không phải là bắt đầu thực hiện. Sách dày 628 trang, viết tay bằng một thứ chữ rất đẹp, sáng sủa, dễ đọc. Tác giả viết liên hồi, không chia thành chương mục. Tuy là dưới cách viết nhật ký, nhưng cách diễn tả là để cho người khác đọc chứ không phải cho riêng mình, cho nên ta thấy có thêm phần mục lục ghi chú từng trang ghi gì. Theo cách diễn đạt thì cuốn sách này chia làm 3 đề tài: đề tài thứ nhất nói về Dòng Tên; đề tài thứ hai nói về mình và bạn bè; đề tài thứ ba là những vấn đề linh tinh. Trong phần mục lục, ông đã viết:
 
“Tôi là thầy cả Bỉnh làm ở Kẻ chợ nước Portugal năm 1822 mà chép nhiều sự, cho nên gọi là Sách sổ sang, sao chẳng có từng đoạn như sách khác, bởi đấy thì tôi chia làm ba đoạn mục lục, cho dễ tìm, mà ai muốn xem mục nào, thì tìm mục lục thuộc về đoạn ấy. Mục lục đoạn thứ nhất nói những việc thuộc về Dòng Tên. Mục lục đoạn thứ hai nói những sự thuộc về tôi cùng các bạn. Mục lục thứ ba chép các việc khác.
 
Cuốn sách này của Philíphê Bỉnh cho ta thấy ông gần như là một nhà văn hoá, một nhà văn, một nhà ngôn ngữ, bằng bút pháp của lối viết mới cho ta được chứng kiến một xã hội Việt Nam vào những năm của thế kỷ XVIII.
 
Khác với những nhà truyền giáo đương thời chỉ muốn dùng chữ để truyền đạo thuần tuý, trong khi đó Philíphê Bỉnh vừa làm thơ, làm Tự điển, ông viết Hồi ký kể những chuyên không liên quan đến tôn giáo, đến đời sống, cho nên có thể nói Sách sổ sang... của ông là loại sách độc đáo thời kỳ đó chưa ai làm. Hồi ký của ông không phải là thứ ghi chép linh tinh mà theo một phong cách viết của phương tây một cách chép léo và khá thành công, ông quan sát tỉ mỹ những việc xẩy ra quanh mình.
 
Với lối viết văn xuôi, khác hẳn với lối viết văn xuôi kiểu Việt - Hán như Lê Quý Đôn mà giống như lối viết của Trương Vĩnh Ký, ông là nhà văn tả chân đầu tiên.Thực vậy, khi viết văn ông không có ý chép sử một cách khô khan mà nhằm gây cảm xúc cho người đọc. Một con người uyên bác biết chữ Nôm, thông thạo chữ Hán, giỏi tiếng Trung Hoa, Latinh, biết tiếng Bồ Đào Nha để biên soạn tự điển Việt - Bồ trong thời kỳ đó hiếm người đạt được như ông.”
 
“Ông không chỉ là nhà truyền giáo nhà ngôn ngữ, nhà văn hoá, mà còn là một nhà sử học. Trong hai bộ sử “Truyện Annam Đàng Ngoài” và “Truyện An Nam Đàng Trong” cách viết của ông theo phương pháp chép sử của phương Tây, ông không chỉ chép chuyện vua chúa. Mà ngay chép sử tôn giáo, ông cũng không chỉ nói chuyên tôn giáo, ông lồng đời sống tôn giáo vào trong đời sống trần thế và khi chép truyện đời,ông cũng đều gắn bó với đạo. Ông chú trọng nhất đến đời sống nhân dân,của quảng đại quần chúng. Ngay khi chép sử Việt Nam,ông cũng không tách ra khỏi lịch sử chung của nhân loại; lịch sử Philíphê Bỉnh bao giờ cũng là lịch sử Đông Tây đối chiếu.Thực vậy, mỗi khi ông viết về một biến cố nào ở Việt Nam, thì ông so sánh nó với biến cố trong lịch sử Tây phương. Điều quý nhất ở các bộ sử của Philíphê Bỉnh là hầu hết những điều ông đề cập đến đều không có trong chính sử Việt Nam, điều này giúp cho các nhà sử học Việt Nam bổ túc nhiều cho chính sử chưa đề cập đến. Nhiều sự kiện kể trong chính sử, cũng được ông ghi nhận, điều này giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm tư liệu tham khảo, bổ sung cho các công trình của mình.
 
Tóm lại, các tác phẩm của Philíphê Bỉnh sẽ là kho tư liệu quý giúp cho giới sử học khám phá, so sánh đối chiếu rất có giá trị.”
 
C. ĐỨC CHA TABERD VÀ TỰ ĐIỂN “Dictionarium Anamitico-Latinum”
 
Vì tầm quan trọng quyển Tự điển của Đức Cha Taberd (năm 1838) trong văn học nói chung, của nền văn học công giáo nói riêng, nên chúng tôi xin ghi lại sau đây nhận định của một số tác giả đã đã nghiên cứu về tiểu sử tác giả cũng như nội dung của quyển Tự điển.
 
I. Sơ lược tiểu sử Đức Cha Taberd và Tự vị[54]
 

Hoàn cảnh xã hội
 
Mấy năm đầu, vì nể nhiều quan triều, nhứt là ông Tả quan Lê Văn Duyệt, đang làm Thượng công trấn giữ đất Đồng Nai, và vì vua Gia Long xưa đã đặt ông này là đỡ đầu Minh Mạng, nên vua chưa dám cấm đạo. Đến khi ông Thượng công qua đời, không còn ai can gián, vua mới tra tay làm dữ cho thỏa lòng ghen ghét.
 
“Vào những năm 1825, 1827, theo lệnh vua Minh Mạng, các giáo sĩ người Pháp bị đưa về Dinh Cung Quán ở Huế quản thúc, trong số này có linh mục Taberd; nhưng nhờ tổng trấn Lê Văn Duyệt can thiệp, nên linh mục được tự do lui về Sài Gòn. Ngày 30-5-1830, tại Bangkok, Linh mục Taberd được tấn phong làm giám mục, với hiệu toà Isauropolis, và được lãnh trách nhiệm coi sóc địa phận Đàng Trong, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên chỉ ở miền nam chứ không ra ngoài Huế được.
 
Giám mục Taberd đang ở Thị Nghè, thì lại bị vua Minh Mạng ra dụ ngày 6-1-1833, triệu về Huế trình diện, nên cùng với ba giáo-sĩ Pháp và mười lăm chủng sinh ở Lái Thiêu trốn ra khỏi Thị Nghè, qua ngả Châu Đốc, Hà Tiên, Campuchia, tới Chanthaburi ngày 21-3, rồi tới Bangkok sau hơn một tháng trời. Hành trình hết sức mệt nhọc.
 
Tại Bangkok nhà vua nước Xiêm (Thái Lan) muốn lợi dụng và lôi cuốn giám mục về phía nước Xiêm để chống lại Việt Nam, nhưng bị từ chối. Để khỏi vướng mắc về chính trị, mùa hè năm 1834, giám mục trốn xuống Penang, Singapore, rồi sang xứ Bengale bên Ấn Độ. Nhận thấy không thể trở lại Việt-Nam được, nên giám mục Taberd đã xin Toà Thánh bổ nhiệm phó giám mục ở Đàng Trong, để làm việc thay cho mình. Vì thế năm 1835, linh mục Étienne Théodore Cuénot (tên Việt là Thể) được cử vào chức vụ này. Năm 1838, giám mục Taberd xin từ chức giám mục Đàng Trong, và được cử làm giám mục ở xứ Bengale. Cũng năm ấy ngài cho xuất bản tại nhà in J. C. Marshman ở Serampore cuốn Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị - Dictionarium Anamitico-Latinum. Ngài mất tại Calcutta ngày 31-7-1840.
 
2/ Cuốn tự vị này được hoàn thành, ít nhất đã có sự cộng tác của chủng sinh Philiphê Phan Văn Minh, vì khi ông này còn đang học tại đại chủng viện Penang, đã được giám mục Taberd mời sang Calcutta để cộng tác vào việc biên soạn. Sau này Phan Văn Minh đã được thụ phong linh mục. Thực ra các soạn giả đã dùng làm căn bản bổ sung khá rộng cuốn tự vị chép tay Dictionarium anamitico-Latinum của giám mục Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc) đã soạn vào những năm 1772-1773, nhưng chưa soạn xong hẳn.
 
Ngoài cuốn tự vị nổi tiếng đó, giám mục Taberd còn cho xuất bản:
 
- Tabula geographica imperii annamitici, Bengale, 1838.
 
- Documenta rectae rationis, Pondichéry, 1838 (Sách này dùng vào việc huấn luyện các chủng sinh Việt Nam và Trung Hoa. Sách được tái bản lần thứ ba tại Hương Cảng năm 1914).
 
- Giáo lý Đàng Trong, 1838. (Theo soạn giả Trương Bá Cần dẫn chiếu cuốn Bibliotheca Missionum. Xin coi: Công giáo Đàng Trong thời Giám mục Pigneau, Tủ sách Đại Kết, 1992, trang 40).
 
II. Nội dung cuốn Tự vị
 
1. Phần dẫn nhập và chỉ dẫn
 
Đáng chú ý là phần dẫn nhập và chỉ dẫn, vì nó cho ta biết thêm về nguồn gốc cuốn tự vị, lại cho ta thấy soạn giả đã có hiểu biết nhiều về văn học Việt Nam, đồng thời cũng muốn thông những cái biết ấy cho người khác. Trong phần này số trang được ghi theo kiểu viết số Rôma. Trong số 46 trang thì trừ 8 trang viết bằng chữ Quốc ngữ ra, các trang khác đều viết bằng tiếng Latinh cả.
 
Ngay trong phần dẫn nhập (tr. I-II), soạn giả cho biết cuốn tự vị đã được khởi công do Giám mục Bá Đa Lộc, tức Pierre Pigneaux de Béhaine, là người thạo tiếng Đàng Trong. Ta biết vị này còn thạo cả chữ Hán nữa, và còn soạn một cuốn tự vị Hán-Việt-Latinh, hơn 900 trang, được tàng trữ trong văn khố Hội Truyền giáo Nước Ngoài tại Paris, và cũng mới do Hội này rọi ảnh cho in ra vào cuối năm 2001, và cuốn Thánh giáo Yếu lý Quốc ngữ (bản chữ nôm có bài tựa bằng chữ Hán, đã được in tại Quảng Đông năm 1774, bản chữ quốc ngữ mẫu tự Latinh thì còn trong văn khố nói trên). Qua bao nhiêu cuộc binh-đao, sau vụ nhà trường đào tạo chủng sinh Việt Nam ở Cà Mau bị đốt cháy năm 1778, bản chép tay đã được cứu thoát và đem sang Bengale rồi được tu bổ và ấn hành.
 
Mục đích của người làm tự vị này là để giúp cho những người muốn học tiếng Việt, như các nhà truyền giáo ở Việt Nam, các thương gia, các khách du lịch, các học sinh Việt Nam và các học giả muốn tìm hiểu về văn chương Việt Nam.
 
Nhận xét thứ nhất của soạn giả là ngôn ngữ nước ta do ngôn ngữ Trung-hoa mà ra. Lý do là vì cách viết rất giống chữ Hán: một phần thì lấy lại đúng chữ Hán, một phần thì lấy từ chữ Hán mà chế biến ra. Vì có những cái thay đổi như thế, cho nên người Tàu đọc chữ Việt (chữ Nôm) không ra, mà người Việt nói thì họ không hiểu được. Tuy nhiên, soạn giả viết tiếp, chữ Hán được dùng bên Việt Nam trong các bộ luật và trong các đơn từ, ai muốn được bổ làm quan thì phải học chữ Hán. Vì thế họ có thể bút đàm được với người Tàu. Nói tóm lại là người Việt dùng hai thứ ngôn tự: tiếng nói hằng ngày của người dân và chữ Hán dùng trong giới nhà nho. Soạn giả đưa ra nhiều ví dụ để giải thích người Việt dùng chữ Hán, có lúc đổi hẳn nghĩa, có lúc thì đọc trại đi thành ra dăm ba từ ngữ khác. Như thế quả là soạn giả đã khá hiểu tình trạng tiếng Việt.
 
Sau những nhận xét chung, thì trình bày tiếng Việt. Bắt đầu là giảng về âm học, thanh học và văn phạm Việt Nam. Soạn giả viết thật tỉ mỉ về các chính âm, các phụ âm đầu và phụ âm cuối, và về cả sáu thanh như tiếng Đàng Ngoài (tr. III-IX). Có điều đáng chú ý là soạn giả có kể ra hai phụ âm đầu là bl và ml, trước đây vẫn dùng cho đến đầu thế kỷ XIX, nhưng trong chính tự vị thì không dùng đến nữa, mà thay bằng hai phụ âm tr và l. Còn về văn phạm thì viết vắn tắt (trang IX-XII) và viết các phần đoạn theo như văn phạm Âu châu. Nhưng bù vào đó thì lại có hơn hai chục trang (XIII-XXXIX) về các phụ từ đặc biệt Việt Nam, dùng để viết cho câu văn thêm đẹp, hay nói cho đúng ra là để viết cho ra tiếng Việt.
 
Sau cùng thì có 8 trang (XXXIX-XLVI) dạy rất tỉ mỉ về cách làm thơ: thơ lục bát, thơ Đường thất ngôn bát cú, thơ ngũ ngôn, và về cách làm phú và làm văn tế, với các câu đối, biền ngẫu đúng phép. Những trang này thì viết bằng tiếng Việt, vì thực ra nếu không thông thạo tiếng Việt thì khó mà lãnh hội được. Tất cả đều có những bài mẫu được dịch ra tiếng Latinh. Độc giả có thể căn cứ vào đó mà hiểu được những cái đặc sắc tế nhị của tiếng Việt.”
 
2. Phần chính

 
2.1. Phần chính của cuốn tự vị gồm 620 trang, mỗi trang chia ra làm 2 cột. Các chữ trong tự vị được xếp theo thứ tự A, B, C của mẫu tự Latinh, nhưng mỗi từ ngữ đều được viết bằng chữ Nôm trước, viết theo mẫu tự Latinh sau, rồi dịch nghĩa ra tiếng Latinh. Tiếp sau đó thì chua thêm những kiểu nói bắt đầu bằng chữ đó. Cũng nên chú ý rằng các sách nôm của người Công giáo Việt Nam trong gần 4 thế kỷ, đều gọi chữ nôm là quốc ngữ, để phân biệt nó với chữ Hán là chữ viết của người Tàu. Gần đây chúng ta mới gọi chữ viết theo mẫu tự Latinh là chữ Quốc ngữ.
 
Cứ theo lý mà xét, thì tự vị này phải nặng về tiếng Đàng Trong, vì cả hai giám mục Pigneau (Bá Đa Lộc) và Taberd đều đã hoạt động ở Đàng Trong, và hơn nữa, cuốn Thánh giáo Yếu lý Quốc ngữ (1774) viết theo mẫu tự Latinh của giám mục Bá Đa Lộc cũng viết theo tiếng Đàng Trong, ví dụ: nhơn, chứ không viết nhân. Tuy vậy, tiếng Đàng Ngoài cũng xuất hiện khá nhiều trong tự vị đó, ví dụ: được thay vì đặng, vào thay vì vô. Cho nên có thể đoán rằng có người Đàng Ngoài cộng tác vào đó.
 
Ai muốn tra tự vị theo kiểu Tàu, nghĩa là theo thứ tự các bộ chữ và theo số nét viết, thì có thể tìm trong những trang 661-712. Đặc biệt nhất là trong những trang 713-719 có một bảng để chỉ cho biết những chữ Hán gồm nhiều bộ phức tạp thì phải tìm theo bộ nào.
 
Ngoài những từ ngữ thông thường trong những trang trên đây, lại có 40 trang (621-660) dành cho những từ ngữ chuyên môn về thực vật học, về cây cối, hoa quả, rau cỏ ở Đàng Trong (Hortus floridus Cocincinae). Như ta biết, phép phân loại, dùng trong thực vật học, và sau này dùng trong động vật học, đã được định hình do Carl von Linné (1707-1778), đặt tiêu chuẩn khoa học để thống nhất cách chia loại trên loại dưới, chia hạng trên hạng dưới, đồng thời dùng tiếng La tinh, chứ không dùng từ ngữ thường nhật của học giả các nước khác nhau, để thống nhất cách gọi tên các loại thảo mộc. Cho nên chỉ có người am tường khoa thực vật học mới biết nhiều tên bằng tiếng Latinh như thế. Đây là một truyện tình cờ: năm 1972 tôi có đưa một cây rau răm cho một giáo sư đồng nghiệp, người Bỉ, dạy thực vật học ở đại học Kinshasa (Congo), nhờ xếp loại và gọi tên khoa học; sau khi khám nghiệm, ông ta xếp nó vào loại polygonacae, và gọi tên nó là polygonum (verisimile) odoratum Loureiro; bây giờ tra tự vị Taberd, xuất bản năm 1838, tôi thấy đã gọi tên nó là Polygonum odoratum. Thế mới biết soạn giả không phải là những người vô học. Thiết tưởng các nhà thực vật học nước ta cũng nên so sánh cách gọi tên thảo mộc bên ta và tên các vị thuốc bắc trong tự vị đó với các tên dùng trong khoa học ngày nay xem sao.
 
Sau cùng còn một phần phụ lục dành cho những từ ngữ Hán Việt (chữ Hán đọc theo giọng Việt), vừa xếp theo thứ tự của mẫu tự Latinh (trang 1-107), vừa xếp theo bộ chữ Hán (trang 108-126). Các trang, như ta thấy, được ghi lại từ 1 đến 126, như là một cuốn sách mới.
 
Như thế cũng đủ thấy là tự vị Taberd thật là tiện lợi: tra cứu theo chữ Hán, chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ đều được dễ dàng cả. Dĩ nhiên việc biên soạn này là một công trình rất có phương pháp, và tốn nhiều công phu. Nếu không tha thiết với tiếng Việt, với chữ nôm, thì chắc không ai làm. Và hơn nữa, nếu không có nhiều người cùng làm chung thì không ai một mình mà làm nổi.
 
2.2. Tự vị và nền quốc học
 
Vấn đề quốc học
 
Xét cho cùng thì có lẽ nền quốc học của người Việt đã không phát triển theo cùng một nhịp với truyền thống quốc gia và ý thức dân tộc.
 
Vấn đề chữ Nôm
 
Chắc hẳn là vì đã ý thức được cái thiếu sót ấy cho nên trong nước độc lập thời nhà Trần, hay có lẽ còn sớm hơn nữa, đã có những nhà Nho nghĩ đến việc chế biến chữ Hán để viết ra tiếng nói của người dân Việt: chữ nôm bắt đầu thành hình, và ngay thời đó đã có những văn kiện như bài văn tế cá sấu: “Ngạc ngư kia hỡi mày có hay...’’. Theo như sử gia Ngô Sĩ Liên thì người ta bắt đầu làm thơ phú bằng tiếng Việt vào khoảng đầu thế kỷ XIV. Văn chương chữ nôm không phải là không phong phú, nhưng các nhà Nho vẫn tiếp tục làm thơ văn bằng chữ Hán, nhà cầm quyền vẫn ra sắc lệnh cai trị dân bằng chữ Hán, viết quốc sử bằng chữ Hán.
 
Tự vị tiếng Việt
 
Khi các giáo sĩ Âu châu vào Việt Nam truyền giáo, thì họ có đem theo một số sách giáo lý đã soạn bằng Hán văn ở Trung Quốc để cho các nho sĩ đọc. Nhưng họ đã học tiếng Việt để giảng đạo thẳng bằng tiếng Việt cho dân chúng. Có lẽ vì thế mà giới nho sĩ cho rằng đó là tả đạo, giảng cho “ngu phu ngu phụ’’. Chữ nôm khó học, thì họ chịu khó học, chứ không dám coi thường, càng không dám cho là mách qué, như các nho sĩ chỉ biết chịu phục có người Tàu.
 
Làm tự vị tức là làm sổ tất cả các từ ngữ được dùng trong một dân tộc. Người ta thường căn cứ vào sách vở của các nhà văn, căn cứ vào cách ăn nói của người dân, để xác định các ý nghĩa khác nhau của từng từ ngữ. Muốn cho tự vị thành ra hữu dụng, thì sau công việc thu thập tài liệu như thế, phải tìm ra cách thức xếp đặt các từ ngữ cho có thứ tự, để ai nấy biết cách tra cứu. Các tự vị do các giáo sĩ Âu châu biên soạn đều được xếp đặt theo thứ tự của các mẫu tự Latinh, nhưng cũng có bảng xếp đặt theo thứ tự các bộ chữ Hán và theo số các nét chữ. Tự vị Taberd cũng theo qui tắc như thế, cho nên muốn tra cứu chữ quốc ngữ theo thứ tự mẫu tự Latinh, hay là tra cứu chữ nôm theo kiểu Tàu (theo bộ chữ và số nét chữ) cũng được cả.
 
Soạn giả có thể giới hạn tự vị vào những từ ngữ thông dụng mà thôi. Nhưng tự vị cũng còn có thể bị giới hạn, vì soạn giả chưa sao lục ra được hết mọi từ ngữ, hết mọi cách viết chữ nôm đã dùng trong các sách nôm ở Việt Nam, hay là chưa tìm ra được tất cả các ý nghĩa của từ ngữ. Cho nên những người đi sau thường lấy lại của người đi trước, và đôi khi cũng căn cứ được vào các tác phẩm đã có, để khám phá thêm được một ít từ ngữ hay ý nghĩa mới. Từ ngữ được viết vào tự vị tức là được công nhận. Cũng như các tự vị khác, tự vị Taberd đã ghi lấy những từ ngữ và những chữ viết (chữ Nôm) đã dùng trong một thời kỳ, trong một địa phương nhất định. Cái sở trường và cái sở đoản của nó là ở chỗ đó,
 
Xin đan cử ra đây một vài ví dụ, gọi là để đề nghị một vài phương hướng nghiên cứu về chữ nôm Công giáo: a) có một số từ ngữ chuyên môn của Công giáo, như: “dòng’’ (hội những người đi tu), “rỗi’’ (được cứu độ, được sống muôn đời), “kinh’’ (lời cầu khấn, “oratio’’, chứ không phải là “sách’’, như thỉnh thoảng có người hiểu lầm), b) có một số từ ngữ chuyển âm từ tiếng Latinh hay Bồ Đào Nha, như: “vít-vồ’’ (giám mục, chuyển âm từ tiếng Bồ Đào Nha “bispo’’, chữ nôm thì dùng hai chữ Hán “viết vô’’, nhưng phải đọc là ‘’vít-vồ’’), ‘’pha-pha’’ (vị giáo tông ở Roma, cũng gọi là giáo hoàng, Latinh và Bồ Đào Nha là “papa’’). c) có những chữ vẫn thông dụng, nhưng lại không có trong tự vị như “Giê-su’’ là tên vị giáo tổ (Chữ Hán-Việt là “Gia-tô’’, người Tàu đọc là “Giê-xu’’; viết chữ nôm thì dùng hai chữ “Chi-thu’’, nhưng phải đọc trại đi là “Giê-su’’ thì mới là đúng, chứ không đọc là “Chi-thu’’, như đôi khi có người đọc sai. d) có những chữ nôm mà soạn giả chưa tìm ra tất cả các cách viết, như: chữ “rỗi’’ (được cứu độ, “salus’’), thì soạn giả chỉ ghi cách viết chữ “khẩu’’ bên trái chữ “lỗi’’, chứ không ghi cách viết chữ “sinh’’ bên trái chữ “lỗi’’,...
 
2.3. Vấn đề Quốc ngữ
 
Trở lại vấn đề chữ Quốc ngữ

 
Chữ Nôm vì quá tuỳ thuộc vào chữ Hán, lại trước đó cũng chẳng được trọng dụng như chữ Hán, cho nên cũng theo đó mà lu mờ đi, cho nên chỉ còn có lối viết theo mẫu tự Latinh là được gọi là Quốc ngữ mà thôi. Đã thế vào đầu thế kỷ XX lại có một số sĩ phu có tên tuổi đứng ra cổ võ cho chữ Quốc ngữ ấy, vì thấy nó tiện lợi và dễ học hơn chữ Nôm. Và họ đã thành công. Ngày nay là gần một thế kỷ sau đó, chúng ta đã quá quen dùng chữ Quốc ngữ rồi, văn chương của tiền nhân hầu hết cũng đã chuyển sang chữ Quốc ngữ, rồi các sáng tác văn học, khoa học, thư tín và giấy tờ hành chính đều viết bằng chữ quốc ngữ cả. Cho nên có lẽ không còn ai chủ trương phải trở về chữ Nôm nữa: nó thật là thần tình, nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm và chưa được ấn định cho chính xác.
 
Chữ Quốc ngữ và chữ Nôm
 
Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là hai lối viết tiếng Việt, một lối theo mẫu người Tàu, một lối theo mẫu người Tây. Thực ra cũng không phải người Tây sáng chế ra lối viết theo mẫu tự như thế, nhưng họ cũng là học lại của người miền Trung Đông thời Thượng Cổ. Và hiện nay cũng có nhiều dân tộc trên thế giới dùng lối viết theo mẫu tự.
 
Chữ Nôm đã “vang bóng một thời’’, nó kết tinh nỗ lực của ông cha ta trong mươi thế kỷ để thiết-lập một nền văn hoá Việt Nam có bản sắc riêng, tuy có chịu ảnh hưởng của văn hoá người Hán tộc, lại muốn có vốn để “đi ăn riêng’’, nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Chữ quốc ngữ là do ảnh hưởng của người Âu châu, nhưng đã giúp cho người mình thực hiện được cái ý muốn độc lập đó.
 
Ngày nay ta không dùng chữ Nôm trong đời sống thường nhật, và cũng không thấy có dấu nào nói lên rằng dân ta muốn trở lại dùng chữ Nôm, vì thực ra cũng có nhiều cái bất tiện, lại tốn công, tốn của, tốn thì giờ. Tuy vậy đó vẫn là kho tàng văn hoá không thể bỏ qua, mà trái lại cần được bảo tồn. Đó là chương trình của Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm và của cơ quan “Vietnamese Nôm Preservation Foundation’’. Trong việc sưu tầm sách vở chữ Nôm thời xưa, xem chừng còn ít người biết và để ý đến số sách Nôm do người Công giáo đã biên soạn trong hơn ba thế kỷ. Điểm quan trọng của số sách này là ở chỗ nó cho ta biết khi bắt đầu tiếp xúc với tư tưởng người Âu, thì các ý niệm và quan niệm của Tây phương được chuyển sang tiếng Việt như thế nào.
 
Như đã nói trên đây, tự vị Taberd, cũng như tự vị của Pigneaux de Béhaine, có cái sáng kiến hay của nó, là vừa có đối chiếu chữ Quốc ngữ với chữ Nôm, vừa có cách thức thuận tiện để chuyển từ loại chữ này sang loại chữ kia. Vì xếp theo thứ tự các mẫu tự Latinh, nên ta biết đọc thế này thì phải viết làm sao. Ngược lại, muốn biết chữ viết thế này phải đọc làm sao, thì đã có bảng xếp các chữ theo các bộ chữ Hán. Cho nên từ sau đó các tự vị chữ Nôm đều tiếp nhận cái sáng kiến ấy.
 
Tự vị Taberd đã góp phần vào việc định hình cho chữ Quốc ngữ ta dùng bây giờ, và còn giúp ta trong việc nghiên cứu chữ Nôm. Cho nên nó đáng được một chỗ đứng trong lịch sử phát triển văn hoá Việt Nam.”
 
III. Tự vị “Dictionarium Latino-Anamiticum” của Đức cha Taberd[55]
 
Chúng tôi xin ghi lại một số phần chính trong tự điển quyển thứ hai của Đức cha Taberd. Sau đó chúng tôi chuyển một số ghi chú về các tự vị của Đức cha Taberd xuất bản ở Bengale năm 1838 của Louis Malleret.






 
“Khi mô tả về quyển thứ hai, Đức Cha Taberd cho thấy Ngài đã nhớ đến những nguyện vọng của Viên thơ ký phủ Toàn quyền Ấn Độ, ở hội nghị “Société Asiatique du Bengale” ngày 3 tháng 8 năm 1836, nhằm làm cho sách dễ hiểu đối với các thuỷ thủ và các thương nhân”, bằng cách đưa vào đấy những chú thích bằng tiếng anh, cũng như bằng tiếng Latinh, và ngoài ra, một tự vựng tiếng Anh thông dụng, bằng tiếng Nam Kỳ.



 
Tác giả đã chấp nhận lời yêu cầu bằng cách thêm vào “một bản tóm lược đầy đủ về ngôn ngữ các danh từ, các động từ, đối thoại, văn phạm… bằng tiếng Anh, Pháp, Latinh và Annam”.

 
Chính là phần phụ đính dài 135 trang của quyển thứ hai mà Abel des Michels đã cho tái bản vào năm 1871, kèm theo chú giải sát theo nghĩa chữ của những bài đối thoại bằng tiếng Annam, Pháp, Anh và Latinh và duyệt lại các khái niệm về cân lường, đo đếm và phân chia thời gian, được ghép vào cuối tác phẩm của Đức Giám mục Isauropolis.
 
Ở phần phụ đính của quyển Tự điển của mình, Đức cha Taberd đã gắn thêm một bản đồ in theo mẫu của thư viện của chúng ta, nhưng vẫn được nhiều người biết đến. Đó là bản đồ Vương quốc Annam, bằng tiếng Latinh và tiếng Annam, mang tựa đề “Annam đất quốc địa đồ” hay là “Tabula geographica imper anamitici, ab auctore Dictionarium latino-anamitici disposita 1838. Nó được in ở Paris, năm 1863 theo lệnh của Hầu tước Chasseloup Laubat, Bộ trưởng Bộ Hải quân, trên giấy rộng khổ 1,06 x 0,75 mét. Bản đồ này là một tiến bộ quan trọng đối với các bản đồ đã có trước, và do đó là một tư liệu cơ bản đã được các sĩ quan Đạo quân Viễn chinh sử dụng từ năm 1859, và trước khi có bản đồ tạm thời của kỷ sư Manen, năm 1862, rồi sau đó Bản đồ tổng quát của Nam Kỳ thuộc Pháp, do Trung tá Hải quân Bigrel, 14 tờ, năm 1872-1873.
 
Ngoài những công trình của tác giả Tự vị, cũng nên thêm vào hai bài viết bằng tiếng Anh, đăng trên tờ báo “Journal” của Hội Á châu ở Bengale. Đó là hai tiểu dẫn địa lý, in trong các quyển VI và VII, năm 1837 và 1838, mà chúng tôi sẽ tái bản sau này. Ở Serampore, ngài cho xuất bản hai tác phẩm khác bằng tiếng Latinh. Sau hết, theo A. Brébion, người mà thông thường có cung cấp thông tin gì thì chúng ta không nên tin vội mà cần phải kiểm tra lại, vị giám mục có thể cho xuất bản thêm, năm 1833 do nhà in J. Marshman, một quyển văn phạm bằng tiếng Latinh và Annam.”
 
Ngoài khía cạnh văn từ, Tự điển thứ hai này của Đức Giám mục Taberd  nói lên những mặt tích cực như sau:
 
1- Khả năng diễn đạt tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ đã thể hiện rõ nét trong Tự vị của A. D. Rhodes. Xin xem phần Appendix trong cuốn Tự điển thứ nhất thì rõ.
 
2- Ngoài khả năng diễn đạt tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ, quyển thứ hai này có “Khả năng diễn đạt của tiếng Việt Nam”: nghĩa là tiếng Việt có thể diễn đạt tiếng Latinh, tiếng pháp, tiếng Anh…, mà không cần vay mượn những tiếng ngoại quốc đó.
 
3- Tự điển thứ hai này có nhiều tiếng phổ thông, thông dụng đến đời sống hằng ngày và rất ít tiếng Nôm.
 
4- Nhiều từ ngữ có khả năng diễn tả nội dung giáo lý Công giáo.
 
5- Có nhiều từ trong Tự điển của ngài diễn tả những phạm trù tích cực về các lương dân. Ví dụ: từ “lương”, nghĩa là những “người tốt”.
 
6- Tự điển thứ hai này cũng đã sánh vai được với thế giới, nơi gặp gỡ thế giới trong nhiều lĩnh vực: văn hoá, khoa học, địa lý, chính trị, tôn giáo…, nói cách khác là bao gồm tinh hoa của nước Việt và khởi đầu sản sinh ra nhiều nhân vật văn học làm rạng danh đất nước như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Paulus Của…
 
7- Trong tự điển A. D, Rhodes[56], cũng như của Taberd chứa đựng nhiều chữ quốc ngữ diễn đạt được nội dung tôn giáo và tạo nên văn học Công giáo Việt nam. Chữ Quốc ngữ đã được ứng dụng vào đời sống tôn giáo như các kinh trong “sách mục lục” dùng mấy trăm năm qua. Các lời kinh trong sách mục lục mang tính cách văn hoá Việt Nam, với tiếng Việt thật gần gũi với người dân bình dị và có nội dung Kinh Thánh, luân lý gia đình, thôn làng, luỹ tre, có sức nuôi dưỡng đời sống đức tin, lối sống đạo tuyệt vời của tín hữu Việt Nam, dù sống trong mọi thế cuộc thuận lợi hay nghịch cảnh.
 
B. Philipphê Phan Văn Minh tham dự cách tích cực trong việc hình thành Tự vị của Đức cha Taberd (năm 1838). Chúng tôi xin ghi phần sơ lược tiểu sử và sự nghiệp của người sau đây.